Bài 1. Vào phủ chúa Trịnh

Chú ý: Trình duyệt hiện tại của bạn chưa cài đặt flashplayer để xem video.

Vui lòng tải và cài đặt phiên bản flash mới nhất tại đây sau đó ấn Ctrl-F5 để xem video hoặc bạn nên dùng trình duyệt Chrome để xem video tốt hơn - Tải Chrome về

Đính Chính: Phút thứ

  • 1. Tiểu dẫn

    14:56

  • 2. Tìm hiểu đoạn trích

    22:57

  • 3. Tìm hiểu đoạn trích - tiếp

    22:29

Hỏi đáp và thảo luận

Diệu Linh
Tự tình Hồ Xuân Hương Nhắc đến Hồ Xuân Hương là ta nhắc đến người phụ nữ có cá tính mạnh mẽ và năng văn chương được coi là hiện tượng của văn học trung đại VN và mệnh danh là Bà chúa Thơ Nôm.Tự Tình là một tác phẩm nổi bật của Xuân Hương tự bày tỏ cảm xúc tâm trạng của bản thân trước duyên phận hẩm hiu.Tự tình năm trong chùm thơ 'Tự tình' gồm 3 bài thơ.Chùm thơ bộc lộ cảnh ngộ éo le ngang trái cùng những nỗi nhiềm cay đắn của thi sĩMở đầu bài thơ là 2 câu đề thể hiện nỗi niềm buồn tủi chán chường của nhân vật trữ tình. Nỗi niềm ấy được gợi ra qua việc tái hiện bối cảnh thời gian không gian trong câu khai đề Đêm khuya văng vẳng trống canh dồnBối cảnh thời gian ở đây được tại hiện qua không chỉ qua từ đêm đêm khuya mà còn qua từ trống canh dồn.Đêm khuya thời gian vạn vật chìm vào trạng thái nghỉ ngơi sau một ngày dài nhưng nhân vật trữ tình ở đây vẫn còn thức vậy với nhân vật đây chính là thời gian đối diện với chính mình để chìm đắm vào suy tư để suy xét.Và âm thanh trống canh dồn ở đây nghe có vẻ phi lý vì tiếng trống chuyển giữa mỗi canh đêm khuya ngày xưa thường vang lên một cách thong thả thư thái chứ không thể là âm thanh dồn dập.Vậy âm thanh dồn dập ở đây không phải là âm thanh của tiếng trống chuyển canh mà là dồn dập trong tâm tưởng nó đã gợi ra cái bước đi của thời gian rất vội vã gấp gáp.Từ bối cảnh thời gian ấy ta thấy được con người chất chứa nỗi niềm , lo lắng, bất an , hoảng hốt trước sự chảy trôi lạnh lùng của thời gian.Ở đây ta còn thấy tác giả gợi nên bối cảnh không gian qua 2 từ 'văng vẳng' với bút pháp lấy động tả tĩnh.Âm thanh văng vẳng là âm thanh từ rất xa vọng lại thấy được đây là không gian rộng lớn tĩnh vắng. Từ không gian hết sức rộng lớn này ta thấy được hình ảnh con người nhỏ bé cô đơn giữa không gian tĩnh vắng.Nỗi buồn tủi chán chường còn được diễn tả trực tiếp trong câu thừa đề bằng cách sử dụng từ ngữ gây ấn tượng mạnh Trơ cái hồng nhan với nước non'Tác giả nhấn mạnh từ Trơ bằng biện pháp đảo ngữ và ngắt nhịp phá cách để thông qua từ trơ để diễn tả nỗi đau và bản lĩnh của HXH.Từ trơ gợi đến sự trơ trọi lạc lõng lẻ loi tủi hổ bẽ bàng trước xh nhiều bất công với người phụ nữ và sự trơ lì chai sạn ngẩng cao đầu thách thức.Và từ trơ còn nhận mạnh vào 2 vế đối lập cái hồng nhan với nước non.Cái hồng nhan chính là chỉ cá nhân người phụ nữ nhỏ bé yếu đuối cô đơn còn nước non chỉ xa hội phong kiến đầy rẫy những bất công. Việc nhấn mạnh vế đối lập thấy được bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa.Cụm từ cái hồng nhan gây ấn tượng mạnh nó là kết hợp từ rất độc đáo.Từ hồng nhan là từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng thể hiện sự trân trọng với giá trị người phụ nữ.Từ cái thường kết hợp từ chỉ đồ vật bé nhỏ vô chi vô giác tầm thường. Việc dùng từ cái kết hợp từ Hán VIệt gợi ra sự rẻ rúng với giá trị người phụ nữ.HXH cất lên tiếng than cho thân phân má đào trong xh xưa góp thêm tiếng nói trong trào lưu nhân đạo của văn học cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19 Tiếng than này còn cất lên trong thơ Nguyễn Du hay Chinh phụ ngâm.Trong 2 câu thơ tác giả đã thể hiện đc nỗi chán chường buồn tủi với sự bất công ngang trái của xhpk đối với người phụ nữ.Tiếp theo là 2 câu thực cho thấy sự gắng gượng chốn chạy tìm quên nhưng bế tắc.HXH tìm quên trong mem rượu Chén rượu hương đưa say lại tỉnhTác giả sử dụng cặp từ đối lập say tỉnh diễn tả vòng luẩn quẩn mà xuân hương bị quấn vào từ đó càng thấy thấm thía hơn nhưng đau tủi bẽ bãng .Từ lại mang 1 ấn tượng rất nặng nề vì nó diễn tả sự lặp lại quay lại lại trạng thái đau khổ ban đầu nó lại diễn tả vòng luẩn quẩn bế tắc giam hãm những người hụ nữ như HXH không thoát ra được chính vì giam hãm nên hết sức chán nản thất vọng.Cái tỉnh say khi say càng làm cho ta cảm thấy buồn tủi hơn. Men rượu cũng khoogn làm XH quên đi được nên HXH đã tìm quên trong việc đắm mình vào vẻ đẹp của thien nhiên của trăng Vâng trăng bóng xế khuyết chưa trònHình ảnh vầng trăng xuất hiện có vẻ phi logic hiện thực khách quan.Trình tự xuất hiên trong tự nhiên của trăng thì vầng trăng từ khuyết đến tròn rồi xế bóng nhưng ở đây nó lại mâu thuẫn với tự nhiên vì nó chỉ có khuyết với xế không có lần nào đc tròn trịa Nhưng cái phi logoclại có logic khi nó phản chiếu tình cảnh của Xuân Hương cho nên hình ảnh vầng trăng trở thành 1 ẩn dụ kép thứ nhất nó là vầng trăng cuộc đời đã 'bóng xế' thứ hai nó còn là vầng trăng hạnh phúc 'khuyết chưa tròn' Hạnh phúc chưa 1 lần được trọn vẹn Trong 2 câu thơ tác giả sử dụng nghệ thuật đối tương hỗ để sung ý nghĩa cho nhau nó đã đúc lại một nỗi đau lớn trong lòng Xuân Hương .Dù cho cố tìm cách để quên đi nhưng cuối cùng HXH vẫn tỉnh táo lại càng thấm thía hơn bi kịch của cuộc đời Ta cũng có phần nào gặp lại tâm sự của người chinh phu trong tp Chinh phụ ngâm'Hương gượng đốt …Người chinh phụ cũng đã tìm quên nhưng cũng không thể quên được mà lại còn càng thấm thía hơn những bi kịch của cuộc đời.Từ chưa trong câu còn gợi đến việc HXH vần còn khát vọng chờ mong con thuyền hạnh phúc vượt lên số phận đó chính là bản lĩnh Xuân Hương không dễ dàng chấp nhận số phận.Tiếp là 2 câu luận thể hiện nỗi niềm phẫn uất và khao khát mãnh liệt.Xuân Hương miêu tả nỗi niềm ấy qua bức tranh thiên nhiên giàu sức sống Đó là hình ảnh của rêu và đá Xiên ngang mặt đất,rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hònRêu và đá vốn là 2 sự vật né nhỏ tầm thường( 1 đám ,mấy hòn ) nhưng lại mang sưc sống phi thường mãnh liệt.Nghẹ thuật đảo ngữ xiên ngang đâm toạc với động từ mạnh thể hiện sự ngang ngạnh bướng bỉnh không thuyết phục của XH.Không gian trong bức tranh vượt xa ngoài tầm với muốn rạch đất,xé trời qua đó 1 lần nữa cho ta thấy được bản lĩnh phi thường không dễ dang đầu hàng số phận .Một con người cưỡng lại định mệnh và đó là sức phản kháng không muốn chấp nhận sự nghiệt ngã ấy thể hiện lối tuân chỉnh kết hợp đảo ngữ sử dụng động từ mạnh theo ý thức tinh thức tinh nhấn 1 con người đầy bản lĩnh ngay cả trong tình huống bi thương.Nhân vật tầm thường bé nhỏ nhưng có sức sống phi thườngHXH lại quay trờ về tâm tạng chán chường buồn tủi ngao ngán nỗi đời buông bỏ ở 2 câu kết.XH nhìn lại bản thân mà ngán nỗi than cho thân phận mình. Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con conTừ xuân ở đây có 2 lớp nghĩa lớp nghĩa thứ nhất là để miêu tả xuân của thiên nhiên trong tuần hoàn 4 mùa lớp nghĩa thứ 2 là chỉ tuổi xuân của con người nhưng mua xuân của thiên hiên có tài hồi là vô hạn còn mua xuân của người con gái là hữu hạn mong manh ngắn ngủi và không tái hồi.Con người có khát vọng mãnh liệt níu kéo tuổi xuân nhưng nào ai níu kéo được tuổi xuân tác giả cảm thấy bất lực chán nản buông xuôi.Từ lại càng làm rõ lên hiện thực chua chát mỉa mai đầy cay đắngTừ lại cũng là 1 từ có 2 lớp nghĩa lớp nghĩa thứ nhất là trạng thái lặp lại nghĩa thứ 2 hành động trờ về quay lại. Qua đó ta thấy rõ sự trái ngược mùa xuân theo tuần hoàn của tự nhiên quay lại nhưng mùa xuân đời người chỉ như con đường 1 chiều không thể quay lại.XH sử dụng nghệ thuật tặng tiến theo chiều giảm thiểu để nói lên bi kịch hạnh phúc của người phụ nữ hay chính là bi kịch của kiếp hồng nhan.Chữ tình trong câu thơ vừa là tình cảm, tình duyên ngày càng lún sâu trong bi kịch cũng là tình người tình đời ngày càng nhạt nhẽo.Đây là một tiếng thở dài bất lực buông bỏ số phận cho đời.Tâm trạng đau buồn cho thấy rằng đó là 1 cái hiện thực nghiệt ngã kiếp oan kì lạ của kẻ tài sắc Bài thơ thể hiện giá trị hiện thực bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâu sắc của một nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ qua đó thấy được tài năng thơ Nôm của HXH

23:41 - 19/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
Chào em, em tham khảo bài cô chữa nhé

Nhắc đến Hồ Xuân Hương là ta nhắc đến người phụ nữ có cá tính mạnh mẽ. Tài năng văn chương của bà được coi là hiện tượng của văn học trung đại VN. Bên cạnh đó, bà còn được mệnh danh là Bà chúa Thơ Nôm. “Tự tình II” nằm trong chùm thơ “Tự tình” là tác phẩm nổi bật của Xuân Hương. Thông qua bài thơ, bà đã tự bày tỏ cảm xúc tâm trạng của bản thân trước duyên phận hẩm hiu.

Mở đầu bài thơ là 2 câu đề thể hiện nỗi niềm buồn tủi chán chường của nhân vật trữ tình. Nỗi niềm ấy được gợi ra qua việc tái hiện bối cảnh thời gian, không gian: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”. Bối cảnh thời gian ở đây được tái hiện qua không chỉ qua từ “đêm khuya” mà còn qua từ “trống canh dồn”. Đêm khuya thời gian vạn vật chìm vào trạng thái nghỉ ngơi sau một ngày dài nhưng nhân vật trữ tình ở đây vẫn còn thức. Vậy với nhân vật đây chính là thời gian đối diện với chính mình để chìm đắm vào suy tư để suy xét. Và âm thanh “trống canh dồn” ở đây nghe có vẻ phi lý vì tiếng trống chuyển giữa mỗi canh đêm khuya ngày xưa thường vang lên một cách thong thả thư thái chứ không thể là âm thanh dồn dập.Vậy âm thanh dồn dập ở đây không phải là âm thanh của tiếng trống chuyển canh mà là dồn dập trong tâm tưởng. Nó đã gợi ra cái bước đi của thời gian rất vội vã gấp gáp.Từ bối cảnh thời gian ấy ta thấy được con người chất chứa nỗi niềm, lo lắng, bất an, hoảng hốt trước sự chảy trôi lạnh lùng của thời gian.Ở đây ta còn thấy tác giả gợi nên bối cảnh không gian qua 2 từ “văng vẳng”. Với bút pháp lấy động tả tĩnh, âm thanh văng vẳng là âm thanh từ rất xa vọng lại thấy được đây là không gian rộng lớn tĩnh vắng. Từ không gian hết sức rộng lớn này ta thấy được hình ảnh con người nhỏ bé cô đơn giữa không gian tĩnh lặng. Nỗi buồn tủi chán chường còn được diễn tả trực tiếp trong câu thừa đề bằng cách sử dụng từ ngữ gây ấn tượng mạnh “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Tác giả nhấn mạnh từ “trơ” bằng biện pháp đảo ngữ và ngắt nhịp phá cách để thông qua từ trơ để diễn tả nỗi đau và bản lĩnh của HXH.Từ trơ gợi đến sự trơ trọi lạc lõng lẻ loi tủi hổ bẽ bàng trước xh nhiều bất công với người phụ nữ và sự trơ lì chai sạn ngẩng cao đầu thách thức.Và từ trơ còn nhấn mạnh vào 2 vế đối lập “cái hồng nhan” với “nước non”. Cái hồng nhan chính là chỉ cá nhân người phụ nữ nhỏ bé yếu đuối cô đơn còn nước non chỉ xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công. Việc nhấn mạnh vế đối lập thấy được bi kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa. Cụm từ “cái hồng nhan” gây ấn tượng mạnh vì nó là sự kết hợp từ ngữ rất độc đáo.Từ “hồng nhan” là từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng thể hiện sự trân trọng với giá trị người phụ nữ. Trong khi đó từ “cái” thường kết hợp từ chỉ đồ vật bé nhỏ vô chi vô giác tầm thường. Việc dùng từ “cái” kết hợp từ “hồng nhan” gợi ra sự rẻ rúng với giá trị người phụ nữ trong xã hội cũ. HXH đã cất lên tiếng than cho thân phân má đào để góp thêm tiếng nói trong trào lưu nhân đạo của văn học cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19. Tiếng than này còn cất lên trong thơ Nguyễn Du hay Chinh phụ ngâm.Trong 2 câu thơ tác giả đã thể hiện đc nỗi chán chường buồn tủi với sự bất công ngang trái của xhpk đối với người phụ nữ.

Tiếp theo là 2 câu thực cho thấy sự gắng gượng chốn chạy tìm quên nhưng bế tắc. HXH tìm quên trong mem rượu. “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh”. Tác giả sử dụng cặp từ đối lập “say” – “tỉnh” diễn tả vòng luẩn quẩn mà Xuân Hương bị quấn vào, từ đó càng thấy thấm thía hơn những đau tủi bẽ bãng .Từ “lại” mang 1 ấn tượng rất nặng nề vì nó diễn tả sự lặp lại quay lại lại trạng thái đau khổ ban đầu, diễn tả vòng luẩn quẩn bế tắc giam hãm những người phụ nữ như HXH: không thoát ra được sự giam hãm tù túng nên hết sức chán nản thất vọng.Cái tỉnh khi say càng làm cho ta cảm thấy buồn tủi hơn. Men rượu cũng không làm XH quên đi được nên bà đã tìm quên trong việc đắm mình vào vẻ đẹp của thien nhiên, của trăng: “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”. Hình ảnh “vầng trăng” xuất hiện có vẻ phi logic với hiện thực khách quan.Trình tự xuất hiên trong tự nhiên của trăng thì vầng trăng từ khuyết đến tròn rồi xế bóng nhưng ở đây nó lại mâu thuẫn với tự nhiên vì nó chỉ có khuyết với xế không có lần nào đc tròn trịa. Nhưng trong cái phi logic lại có cái logic khi nó phản chiếu tình cảnh của Xuân Hương.  Hình ảnh vầng trăng trở thành 1 ẩn dụ kép. Thứ nhất nó là vầng trăng cuộc đời đã 'bóng xế'. Thứ hai nó còn là vầng trăng hạnh phúc: 'khuyết chưa tròn'. Hạnh phúc chưa 1 lần được trọn vẹn. Trong 2 câu thơ tác giả sử dụng nghệ thuật đối tương hỗ để bổ sung ý nghĩa cho nhau. Nó đã đúc lại một nỗi đau lớn trong lòng Xuân Hương .Dù cho cố tìm cách để quên đi nhưng cuối cùng HXH vẫn tỉnh táo lại càng thấm thía hơn bi kịch của cuộc đời. Ta cũng có phần nào gặp lại tâm sự của người chinh phu trong tp Chinh phụ ngâm “hương gượng đốt” …Người chinh phụ cũng đã tìm quên nhưng cũng không thể quên được mà lại còn càng thấm thía hơn những bi kịch của cuộc đời. Từ “chưa” trong câu còn gợi đến việc HXH vần còn khát vọng chờ mong con thuyền hạnh phúc vượt lên số phận. Đó chính là bản lĩnh Xuân Hương không dễ dàng chấp nhận số phận.

Tiếp là 2 câu luận thể hiện nỗi niềm phẫn uất và khao khát mãnh liệt. Xuân Hương miêu tả nỗi niềm ấy qua bức tranh thiên nhiên giàu sức sống. Đó là hình ảnh của rêu và đá “Xiên ngang mặt đất,rêu từng đám / Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”. Rêu và đá vốn là 2 sự vật né nhỏ tầm thường (1 đám ,mấy hòn) nhưng lại mang sưc sống phi thường mãnh liệt. Nghệ thuật đảo ngữ “xiên ngang”, “đâm toạc” với động từ mạnh thể hiện sự ngang ngạnh bướng bỉnh không thuyết phục của XH. Không gian trong bức tranh vượt xa ngoài tầm với, muốn rạch đất, xé trời. Qua đó 1 lần nữa cho ta thấy được bản lĩnh phi thường không dễ dàng đầu hàng số phận. Một con người cưỡng lại định mệnh và đó là sức phản kháng không muốn chấp nhận sự nghiệt ngã ấy thể hiện lối tuân chỉnh kết hợp đảo ngữ. Sử dụng động từ mạnh theo ý thức tinh thức tinh nhấn 1 con người đầy bản lĩnh ngay cả trong tình huống bi thương.Nhân vật tầm thường bé nhỏ nhưng có sức sống phi thường. HXH lại quay trờ về tâm trạng chán chường buồn tủi ngao ngán nỗi đời buông bỏ ở 2 câu kết. XH nhìn lại bản thân mà ngán nỗi than cho thân phận mình: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại / Mảnh tình san sẻ tí con con”. Từ “xuân” ở đây có 2 lớp nghĩa: lớp nghĩa thứ nhất là để miêu tả xuân của thiên nhiên trong tuần hoàn 4 mùa, lớp nghĩa thứ 2 là chỉ tuổi xuân của con người nhưng mùa xuân của thiên nhiên có tái hồi là vô hạn còn mùa xuân của người con gái là hữu hạn mong manh ngắn ngủi và không tái hồi.Con người có khát vọng mãnh liệt níu kéo tuổi xuân nhưng nào ai níu kéo được tuổi xuân tác giả cảm thấy bất lực chán nản buông xuôi. Từ “lại” càng làm rõ lên hiện thực chua chát mỉa mai đầy cay đắngTừ lại cũng là 1 từ có 2 lớp nghĩa lớp nghĩa thứ nhất là trạng thái lặp lại nghĩa thứ 2 hành động trờ về quay lại. Qua đó ta thấy rõ sự trái ngược mùa xuân theo tuần hoàn của tự nhiên quay lại nhưng mùa xuân đời người chỉ như con đường 1 chiều không thể quay lại.XH sử dụng nghệ thuật tặng tiến theo chiều giảm thiểu để nói lên bi kịch hạnh phúc của người phụ nữ hay chính là bi kịch của kiếp hồng nhan.Chữ “tình” trong câu thơ vừa là tình cảm, tình duyên ngày càng lún sâu trong bi kịch cũng là tình người tình đời ngày càng nhạt nhẽo. Đây là một tiếng thở dài bất lực buông bỏ số phận cho đời.Tâm trạng đau buồn cho thấy rằng đó là 1 cái hiện thực nghiệt ngã kiếp oan kì lạ của kẻ tài sắc.

Bài thơ vừa thể hiện giá trị hiện thực thông qua việc miêu tả số phận của những người phụ nữ chịu cảnh chồng chung, vừa bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâu sắc của một nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ. Qua đó, ta thấy được tài năng thơ Nôm của HXH quả không sai với danh xưng “Bà chúa”.

09:02 - 20/10/2020

Diệu Linh
thầy cô giúp em sửa bài phân tích của em với ạ

23:41 - 19/10/2020

Diệu Linh
em chào thâyd cô ạ

23:41 - 19/10/2020

Phạm Thùy Linh
cho e hỏi câu này vs ạ : Câu 1. Tìm thành ngữ trong đoạn thơ sau, phân biệt với từ ngữ thông thường về cấu tạo và đặc điểm ý nghĩa.Lặn lội thân cò khi quãng trắng,Eo sèo mặt nước buổi đò đông.Một duyên hai nợ âu đành phận,Năm nắng mười mưa dám quản công.(Trần Tế Xương, Thương vợ)

20:41 - 19/10/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, em tham khảo gợi ý:

  • Một duyên hai nợ: cũng là một thành ngữ do Tú Xương sáng tạo ra từ một khái niệm “duyên nợ” của nhà Phật, nói về tình nghĩa vợ chồng.
  • Năm nắng mười mưa: chỉ sự dãi dầu, cực nhọc, vất vả.

 So với từ ngữ thông thường, thành ngữ thường đơn giản, ngắn gọn nhưng nội dung lại đầy đủ, sinh động, có tính gợi tả cao, diễn tả được nhiều ý nghĩa khác nhau và có giá trị biểu cảm cao hơn. Tú Xương vận dụng và sáng tạo những thành ngữ dân gian để khắc họa được hình ảnh bà Tú vất vả, tần tảo, đảm đang, tháo vát trong việc mưu sinh cho cả gia đình.

21:46 - 19/10/2020

Đinh Thị Hồng Mai
Cô ơi cho em hỏi: Có người cho rằng để giữ chân người tài, nhà nước cần cải thiện chế độ chính sách tiền lương và các ưu đãi khác.Em có nghĩ vậy không?

15:55 - 18/10/2020

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Đây là câu hỏi về quam điểm aas nhân nên em cu trả lời theo quan điểm của mình nhé

18:06 - 18/10/2020

Diệu Linh
em chào cô ạ cô giúp em lập dàn ý cho tình thu trong bài Thu điếu với ạ

14:14 - 18/10/2020

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Phần này gv đã giảng rồi đó em

18:09 - 18/10/2020

Meo Meo
Như bao thi nhân khác giới thiệu về mùa thu thu Nguyễn Khuyến đã tinh tế sâu sắc giới thiệu cảnh sắc mùa thu nơi làng quê Bắc Bộ bộ với gam màu chủ đạo là màu xanh anh chứ không phải là màu vàng màu đặc trưng vốn có của mùa thu và với mỗi thiên nhiên sẽ đều có cảm nhận khác nhau về mùa thu. Dưới con mắt của Huy Cận Mùa thu đến thật chậm như chưa hề đến còn Tản Đà mang một nỗi buồn man mát mỗi độ thu sang. Dù cảm nhận gì đi nữa thì mùa thu đặc trưng của làng quê Bắc Bộ nơi ông . Đề tài mùa thu là một đề tài quen thuộc được nhiều thi nhân viết. Tác giả đã xây dựng nên cảnh sắc mùa thu đẹp gắn liền với hình ảnh câu cá trong bài thơ Câu Cá Mùa Thu trích trong tập thơ Thu Vịnh Thu Ẩm. Đây là bài thơ Nôm nổi tiếng viết về cảnh sắc mùa thu vô cùng độc đáo. em viết mở bài như vậy đc ko ạ

22:56 - 15/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ

Mùa thu trước nay không phải là một đề tài xa lạ trong thi ca. Dưới con mắt của Huy Cận, mùa thu dịu dàng đằm thắm mang hồn quê “Chiều thu quê hương sao mà đằm thắm / Tôi bước giữa vườn, bạn với hàng cau”. Với Tản Đà, mỗi độ thu sang luôn mang một nỗi buồn man mác: “Trận gió thu phong rụng lá hồng / Lá bay tường bắc lá sang đông / Hồng bay mấy lá năm hồ hết / Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không.” Còn với Nguyễn Khuyến, nét thu là nét đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn, buồn tủi của một nhà Nho nặng tình với quê hương đất nước. “Thu điếu” là một bài thơ thu như thế.

08:28 - 16/10/2020

Meo Meo
Giúp em bài cảm nhận bức tranh cảnh sắc trong bài câu cá mùa thu

19:36 - 15/10/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, em tham khảo gợi ý sau em nhé:

a) Mở bài

- Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

+ Nguyễn Khuyến là nhà thơ Nôm nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam.

"Câu cá mùa thu" là bài thơ thu tiêu biểu trong chùm ba bài thơ thu được viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Khuyến.

- Khái quát bức tranh mùa thu trong bài thơ: hiện lên với vẻ đẹp cổ điển vốn có của thi ca muôn đời với cái tĩnh lặng trong cảnh và tâm của người nghệ sĩ.

b) Thân bài

* Khái quát về bài thơ

- Hoàn cảnh sáng tác: Nhà thơ sáng tác bài thơ này khi về quê ở ẩn với những thú vui tuổi già đó là đi câu cá. Cảnh tượng mùa thu diễn ra lặng lẽ êm đềm cộng hưởng với tâm trạng buồn bế tắc của nhà thơ lo lắng cho số phận người nông dân đã bật lên tứ thơ thu điếu.

- Giá trị nội dung: Bài thơ là bức tranh cảnh sắc mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước cùng tâm trạng đau xót của tác giả trước thời thế.

Luận điểm 1: Bức tranh mùa thu được khắc họa từ sự thay đổi điểm nhìn

- Bức tranh mùa thu được miêu tả theo điểm nhìn:

+ Từ gần đến cao xa: từ “thuyền câu bé tẻo teo” trong “ao thu” đến “tầng mây lơ lửng”.

+ Từ cao xa trở lại gần: Từ “trời xanh ngắt” quay trở về với thuyền câu, ao thu.

=> Cách thay đổi điểm nhìn như vậy làm bức tranh mùa thu toàn diện: từ một khoảng ao, cảnh sắc mùa thu mở ra sinh động theo nhiều hướng.

Luận điểm 2: Bức tranh mùa thu trong bài là bức tranh mùa thu tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất cho “mùa thu của làng cảnh Việt Nam”

- Những nét đặc trưng nhất của mùa thu Bắc Bộ được phác họa trong bức tranh mùa thu với đầy đủ màu sắc và đường nét:

+ Màu sắc:

  • “trong veo”: sự dịu nhẹ, thanh sơ của mùa thu
  • Sóng biếc: Gợi hình ảnh nhưng đồng thời gợi được cả màu sắc, đó là sắc xanh dịu nhẹ và mát mẻ, phải chăng là sự phản chiếu màu trời thu trong xanh
  • Lá vàng trước gió: Hình ảnh và màu sắc đặc trưng của mùa thu Việt Nam
  • Hình ảnh trời xanh ngắt: sắc xanh của mùa thu lại được tiếp tục sử dụng, nhưng không phải là màu xanh dịu nhẹ, mát mẻ mà xanh thuần một màu trên diện rộng -> đặc trưng của mùa thu.

+ Nét riêng của mùa thu được gợi lên từ sự dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật:

  • Không khí mùa thu: thanh sơ, dịu nhẹ, nước trong, sóng biếc, đường nét chủ động nhẹ nhàng
  • Cái thú vị nằm ở cái điệu xanh: xanh ao, xanh trúc, xanh trời, xanh bèo pha chung với một chút vàng của lá thu rơi.

+ Đường nét, chuyển động:

  • "hơi gợn tí" : chuyển động rất nhẹ -> Sự chăm chú quan sát của tác giả.
  • “khẽ đưa vèo” : chuyển động rất nhẹ rất khẽ -> Sự cảm nhận sâu sắc và tinh tế.
  • Tiếng cá “đớp động dưới chân bèo” -> “cái tĩnh tạo nên từ một cái động rất nhỏ”.

+ Sự hòa hợp trong hòa phối màu sắc:

  • Màu sắc thanh nhã đặc trưng cho mùa thu không phải chỉ được cảm nhận riêng lẻ, nhìn tổng thể, vẫn nhận thấy sự hòa hợp.
  • Các sắc thái xanh khác nhau tăng dần về độ đậm: xanh màu “trong veo” của ao, xanh biếc của sóng, “xanh ngắt” của trời
  • Hòa với sắc xanh là “lá vàng”: Sắc thu nổi bật hòa hợp, nổi bật với màu xanh của đất trời tạo vật càng làm tăng thêm sự hài hòa thanh dịu.

=> Nét đặc sắc rất riêng của mùa thu làng quê được gợi lên từ những hình ảnh bình dị, đó chính là “cái hồn dân dã”, “đọc lên, như thấy trước mắt làng cảnh ao chuôm nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, trong tiết thu; rất là đất nước mình, có thật, rất sống, chứ không theo ước lệ như ở văn chương sách vở” (Xuân Diệu).

Luận điểm 3: Bức tranh mùa thu được khắc họa đẹp nhưng tĩnh lặng và đượm buồn

- Không gian của bức tranh thu được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu nhưng tĩnh vắng:

    + Hình ảnh làng quê được gợi lên với “ngõ trúc quanh co” : hình ảnh quen thuộc

    + Khách vắng teo: Gieo vần “eo” gợi sự thanh vắng, yên ả, tĩnh lặng, làng quê ngõ xóm không có hoạt động nào của con người.

    + Chuyển động nhưng là chuyển động rất khẽ: sóng “hơi gợn tí”, mây “lơ lửng”, lá “khẽ đưa” -> không đủ sức tạo nên âm thanh.

- Toàn bài thơ mang vẻ tĩnh lặng đến câu cuối mới xuất hiện tiếng động:

    + Tiếng cá “đớp động dưới chân bèo” → sự chăm chú quan sát của nhà thơ trong không gian yên tĩnh của mùa thu, nghệ thuật “lấy động tả tĩnh”

=> Tiếng động rất khẽ, rất nhẹ trong không gian rộng lớn càng làm tăng vẻ tĩnh vắng, “cái tĩnh tạo nên từ một cái động rất nhỏ”.

=> Không gian của mùa thu làng cảnh Việt Nam được mở rộng lên cao rồi lại hướng trực tiếp vào chiều sâu, không gian tĩnh lặng và thanh vắng.

* Đánh giá đặc sắc nghệ thuật miêu tả

- Bút pháp chấm phá lấy động tả tĩnh tài tình

- Ngôn ngữ giản dị, tinh tế, giàu sức gợi hình biểu cảm

- Cách sử dụng tử vận "eo" thần tình

- Sử dụng hình ảnh ước lệ tượng trưng

- Khai thác tối đa vỏ ngữ âm của ngôn ngữ

c) Kết bài

- Khái quát lại vẻ đẹp bức tranh mùa thu trong bài thơ.

- Nêu cảm nhận của em về cảnh thiên nhiên ấy.



19:53 - 15/10/2020

Meo Meo
Giúp em viết phần mở bài và kết bài bài đó đc ko ạ

20:16 - 15/10/2020

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Em viết dựa vào gợi ý và gửi lại cô chữa cho nhé

20:52 - 15/10/2020

Meo Meo
Sửa giúp em bài này với: Phân tích thương vợ. Đã từ lâu người phụ nữ Việt Nam đã trở thành đề tài lớn trong văn chương kim cổ. Nhưng có lẽ đề tài viết về vợ là một đề tài quen thuộc với tư cách một người chồng hết lòng yêu thương vợ như Tú Xương mới có thể hiểu nên bài thơ ấy chân thành cảm động hơn cả thương vợ là một bài thơ hay và cảm động nhất viết bằng nghệ thuật trào phúng vô cùng đặc sắc của Trần tế Xương Mở đầu bài thơ tác giả đã giới thiệu vợ một cách thân mật gần gũi nhưng chất chứa bao tình cảm nỗi niềm của nhà thơ. Biện pháp tăng cấp ý được sử dụng để thể hiện nỗi vất vả của bà Tú. Thời gian quanh năm không chỉ là độ dài thời lượng mà còn gây ra các dòng vô kỳ hạn của thời gian nó chứng tỏ cuộc mưu sinh không hồi kết thúc. Không gian môm sông vừa có giá trị tả thực là doi đất nhô hẳn ra khỏi lòng sông gợi lên không gian sinh tồn bấp bênh trong trên hàm chứa bất chấp hiểm nguy. Công việc buôn bán (buôn thúng bán mẹt) làm cho thời gian không gian hòa vào nhau làm nặng thêm nỗi vất vả gian truân trong công việc của bà tú tú xưa đã tách ra làm hai gánh nặng gia đình để thấy được công lao của bà Tú đối với gia đình và ông Tú. Tác giả đã sử dụng cách nó đặc biệt nuôi đủ năm con với một chồng nuôi năm con là một trách nhiệm một lẽ đương nhiên lại còn nuôi chồng không phải là một trách nhiệm mà là một cánh nhạn tính nặng Xuân Diệu đã nhận xét "hóa ra ông chồng cũng phải nuôi tựa hồ lũ con bé nhỏ đến nhanh đến ngang hàng với chúng nó. Ông Tú tự nhận mình là một đứa con đặc biệt của bà Tú ăn theo con nhưng xếp sau con nên nặngánh hơn con qua đó cho thấy nỗi niềm xấu hổ dằn vặt, dũng cảm gạt bỏ nét nghĩa cổ hũ xuất phát từ sự tri ân đối với vợ. Từ "nuôi đủ" thể hiện sự tần tảo chăm lo cho chồng cho con, bà Tú là trụ cột của gia đình. Từ đủ ở đây không những đủ về vật chất mà còn phải đủ về tinh thần. Điều đó cho thấy bà Tú là người đảm đang giàu đức hi sinh. Hai câu đầu tác giả không chỉ thể hiện sự thấu hiểu về công việc của vợ mà còn sẽ chia tri âm thầm kín đối với vợ. Tiếp theo là hai câu thực "Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò Đông Không phải ngẫu nhiên tới xương bảo hai câu thơ lên đầu với những động từ và tính từ để mô tả sau sự vất vả nhọc nhằn của bà Tú buôn bán chưa bao giờ là chuyện dễ mà trong cuộc sống nghèo khó khăn này bà Tú phải lặn lội thân cò, eo sèo mặt nước để thu từng xu lời có thế mới lo được cho gia đình. Ông cha ta đã từng nói : "Sông sâu chớ lội đò đầy chớ qua" tác giả đã sử dụng biện pháp đối quản vắng đối lập với buổi đò đông cho ta biết cảm giác cô đơn lẻ loi nguy hiểm về không gian sự côi cút về thời gian buổi đò Đông là chen lấn nguy hiểm nhấn mạnh nỗi cơ cực âm thầm trong cuộc sống của bà Tú. Sử dụng hình ảnh thân ấn dụ con cò. Con cò trong ca dao là hình ảnh chăm chỉ gầy guộc cần mẫn mong nanh thật đáng thương sao. Thân ở đây không chỉ gọi lên tấm thân gầy guộc, mảnh mai mà còn gọi lên thân phận cơ cực cả cuộc đời. Qua hai câu thật ta đã thấy hiện lên bà Tú như thân cò lam lũ chẳng quản ngại khó khăn giữa chốn mưu sinh bao nhọc nhằn Tiếp theo là hai câu thơ Một duyên hai nợ âu đành phậnNăm nắng mười mưa dám quản côngDuyên nợ vốn là quan điểm của người Á Đông việc nên vợ nên chồng của mỗi đôi là do ông tơ bà Nguyệt se duyên kết tốc mà thành. Vợ chồng đến được với nhau ko phải do duyên mà còn do nợ. Là do kiếp trước mắc nợ nên kiếp này phải trả. Theo cách nghĩ ấy nghĩa vợ chồng đã gắn lên 1 người phụ nữ số mệnh ko thể tránh khỏi chỉ có cách là chấp nhận. Ông Tú nhận thấy việc bà Tú lấy mình là duyên ít nợ nhiều. Ông Tú thấy mình là cái nợ của bà Tú điều đó cho thấy ông là một người thương cảm cho vợ dằn vặt cho mình. Từ "âu đành phận" nhẫn nhục, cam chịu coi cái nợ như một điều tất yếu. Điều kì diệu bà Tú ko hề ý thức rằng đó là sự hi sinh. " Dám quản công" có nghĩa là ko ngần ngại chứa đựng sự khiêm nhường ko muốn nhắc đến nỗi vất vả. Lẽ ra nếu ông đỗ đạt ông sẽ được hưởng bao là vinh quang nhưng oái oăm thay ông ko thể đỗ dù cả đời dành để thi cử và cả đời bà Tú đành gánh trách nhiệm trụ cột gia đình gánh luôn là bao mưa nắng. Hai câu luận thể hiện đức hi sinh, lòng vị tha vô bờ bến của bà Tú. Hai câu kết khép lại là tiếng chửi của Tú Xương chửi về một xã hội trọng nam khinh nữ, coi người phụ nữ mang thân phận lệ thuộc. Nhà thơ tự trách mình không giúp được cho vợ tạo gánh nặng cho vợ vợ tự dằn vặt mình, qua đó ta thấy được hình ảnh ông Tú với thái độ chân thành đối với vợ vợ, tâm trạng bất lực trong bi kịch tinh thần của người trí thức trong xã hội phong kiến. Nhà nho tự nhận mình là ăn bám, tự nhận mình là có khuyết điểm. Với kẻ làm trai cái danh là lớn vô cùng tự hạ mình như vậy quả là ko dễ, hơn thế nữa là tự cười chính bản thân mình, tự sỉ vả chính bản thân mình, tự thay bà Tú chửi mình. Ngay cả việc thương vợ cũng bất lực, thế mới thấy ông Tú biết bao là khổ tâm.

21:38 - 14/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
tiếp theo nè :

Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

Mở đầu bài thơ tác giả đã giới thiệu vợ một cách thân mật gần gũi nhưng chất chứa bao tình cảm nỗi niềm của nhà thơ. Biện pháp tăng cấp được sử dụng để thể hiện nỗi vất vả của bà Tú. Thời gian “quanh năm” không chỉ là độ dài thời lượng mà còn gây ra các dòng vô kỳ hạn của thời gian nó chứng tỏ cuộc mưu sinh không hồi kết thúc. Không gian môm sông vừa có giá trị tả thực là doi đất nhô hẳn ra khỏi lòng sông gợi lên không gian sinh tồn bấp bênh trong trên hàm chứa bất chấp hiểm nguy. Công việc buôn bán (buôn thúng bán mẹt) làm cho thời gian và không gian hòa vào nhau làm nặng thêm nỗi vất vả gian truân trong công việc của bà tú. Câu thơ dường như đã tách ra làm hai: gánh nặng cuộc sống, gia đình để thấy được công lao của bà Tú đối với gia đình và ông Tú. Tác giả đã sử dụng cách nói đặc biệt: “nuôi đủ năm con với một chồng”: nuôi năm con là một trách nhiệm, một lẽ đương nhiên nhưng nuôi chồng không phải là một trách nhiệm mà là một gánh nặng. Xuân Diệu đã nhận xét "hóa ra ông chồng cũng phải nuôi tựa hồ lũ con bé nhỏ đến ngang hàng với chúng nó. Ông Tú tự nhận mình là một đứa con đặc biệt của bà Tú. Ăn theo con nhưng xếp sau con nên nặng gánh hơn con qua đó cho thấy nỗi niềm xấu hổ dằn vặt, dũng cảm gạt bỏ nét nghĩa cổ hũ xuất phát từ sự tri ân đối với vợ. Từ "nuôi đủ" thể hiện sự tần tảo chăm lo cho chồng cho con, bà Tú là trụ cột của gia đình. Từ “đủ” ở đây không những đủ về vật chất mà còn phải đủ về tinh thần. Điều đó cho thấy bà Tú là người đảm đang giàu đức hi sinh. Hai câu đầu tác giả không chỉ thể hiện sự thấu hiểu về công việc của vợ mà còn sẽ chia tri âm thầm kín đối với vợ.

15:41 - 15/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
tiếp 2 câu thực em nhé:

Tiếp theo là hai câu thực "Lặn lội thân cò khi quãng vắng / Eo sèo mặt nước buổi đò Đông”. Không phải ngẫu nhiên Tú Xương đảo hai câu thơ lên đầu với những động từ và tính từ để mô tả sau sự vất vả nhọc nhằn của bà Tú. Như chúng ta đã biết, buôn bán chưa bao giờ là chuyện dễ mà trong cuộc sống nghèo khó khăn này bà Tú phải lặn lội thân cò, eo sèo mặt nước để thu từng xu lời có thế mới lo được cho gia đình. Ông cha ta đã từng nói : "Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua" tác giả đã sử dụng biện pháp đối: “quãng vắng” đối lập với “buổi đò đông” cho ta biết cảm giác cô đơn lẻ loi nguy hiểm về không gian và sự côi cút về thời gian. “Buổi đò đông” là chen lấn nguy hiểm, nhấn mạnh nỗi cơ cực âm thầm trong cuộc sống của bà Tú. Tác giả còn sử dụng hình ảnh ấn dụ “con cò”. Con cò trong ca dao là hình ảnh chăm chỉ gầy guộc cần mẫn mong manh thật đáng thương làm sao. “Thân” ở đây không chỉ gọi lên tấm thân gầy guộc, mảnh mai mà còn gọi lên thân phận cơ cực trong cả cuộc đời bà Tú. Qua hai câu thực ta đã thấy hiện lên bà Tú như thân cò lam lũ chẳng quản ngại khó khăn giữa chốn mưu sinh bao nhọc nhằn.

15:44 - 15/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ

Một duyên hai nợ âu đành phận / Năm nắng mười mưa dám quản công

Duyên nợ vốn là quan điểm của người Á Đông việc nên vợ nên chồng của mỗi đôi là do ông tơ bà Nguyệt se duyên kết tóc mà thành. Vợ chồng đến được với nhau ko phải do duyên mà còn do nợ. Là do kiếp trước mắc nợ nên kiếp này phải trả. Theo cách nghĩ ấy nghĩa vợ chồng đã gắn lên người phụ nữ 1 số mệnh ko thể tránh khỏi mà chỉ có cách là chấp nhận. Ông Tú nhận thấy việc bà Tú lấy mình là duyên ít nợ nhiều. Ông Tú thấy mình là cái nợ của bà Tú. Điều đó cho thấy ông là một người thương cảm cho vợ dằn vặt cho mình. Từ "âu đành phận" tỏ ý nhẫn nhục, cam chịu coi cái nợ như một điều tất yếu. Điều kì diệu là bà Tú ko hề ý thức rằng đó là sự hi sinh. "Dám quản công" có nghĩa là ko ngần ngại chứa đựng sự khiêm nhường ko muốn nhắc đến nỗi vất vả. Lẽ ra nếu ông đỗ đạt ông sẽ được hưởng bao nhiêu vinh quang nhưng oái oăm thay ông ko thể đỗ dù cả đời dành để thi cử và cả đời bà Tú đành gánh trách nhiệm trụ cột gia đình, gánh luôn là bao mưa nắng. Hai câu luận thể hiện đức hi sinh, lòng vị tha vô bờ bến của bà Tú. Hai câu kết khép lại là tiếng chửi của Tú Xương chửi về một xã hội trọng nam khinh nữ, coi người phụ nữ mang thân phận lệ thuộc. Nhà thơ tự trách mình không giúp được cho vợ lại còn tạo gánh nặng cho vợ, tự dằn vặt mình. Qua đó ta thấy được hình ảnh ông Tú với thái độ chân thành đối với vợ vợ, tâm trạng bất lực trong bi kịch, tinh thần của người trí thức trong xã hội phong kiến. Nhà nho tự nhận mình là ăn bám, tự nhận mình là có khuyết điểm. Với kẻ làm trai cái danh là lớn vô cùng tự hạ mình như vậy quả là không dễ, hơn thế nữa là tự cười chính bản thân mình, tự sỉ vả chính bản thân mình, tự thay bà Tú chửi mình. Ngay cả việc thương vợ cũng bất lực, thế mới thấy ông Tú có biết bao là khổ tâm.

15:48 - 15/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
kết:
Bài thơ “Thương vợ” với ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường, các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể: bà Tú với “năm con, một chồng” vừa khái quát sâu sắc: người phụ nữ trong xã hội cũ. Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ’” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, đồng thời thể hiện nhân cách nhà nho chân chính của Tú Xương.

15:51 - 15/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
Chào Meo Meo,
Sau khi chữa bài cho em cô có chút nhận xét tổng quát như sau:
Em biết cách viết 1 bài văn phân tích tác phẩm văn học, các ý của em rõ ràng, mạch lạc, đúng trọng tâm vấn đề. thế nhưng em lại mắc phải 1 lỗi cực kì nghiêm trọng liên quan đến cách trình bày. Đó là em không chấm phảy đúng chỗ, sai chính tả nhiều, lặp từ, lặp ý. Em xem kĩ lại bài mình làm và bài cô chữa để thấy mình đã sai ở những chỗ nào nhé.
Bài này có 8 câu mà em mới phân tích 6 câu thôi, em gửi nốt 2 câu cuối cô chữa cho nha.
Chúc Mèo con của cô luôn học tốt và chăm ngoan

15:53 - 15/10/2020

Meo Meo
Phân tích tâm trạng Hồ Xuân Hương trong bài tự tình

19:43 - 27/09/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, em tham khảo gợi ý sau em nhé:

I. Mở bài

- Trình bày những nét tiêu biểu về nữ sĩ Hồ Xuân Hương: Nữ sĩ được mệnh danh: “Bà chúa thơ Nôm” với rất nhiều những bài thơ thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp và niềm cảm thông, thương xót cho số phận những người phụ nữ

- Giới thiệu bài thơ Tự tình II: Đây là một trong số 3 bài thơ trong chùm thơ Tự tình thể hiện nỗi niềm buồn tủi trước cảnh ngộ lỡ làng

II. Thân bài

1. Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi, chán chường

• Câu 1: Thể hiện qua việc tái hiện bối cảnh:

- Thời gian: + Đêm khuya, trống canh dồn – nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếng trống thể hiện bước đi thời gian gấp gáp, vội vã ⇒ Con người chất chứa nỗi niềm, bất an

- Không gian: “văng vẳng”: lấy động tả tĩnh ⇒ không gian rộng lớn nhưng tĩnh vắng

⇒ Con người trở nên nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn

• Câu 2: Diễn tả trực tiếp nỗi buồn tủi bằng cách sử dụng từ ngữ gây ấn tượng mạnh:

- Từ “trơ” được nhấn mạnh: nỗi đau, hoàn cảnh “trơ trọi”, tủi hờn, đồng thời thể hiện bản lĩnh thách thức, đối đầu với những bất công ngang trái

- Cái hồng nhan: Kết hợp từ lạ thể hiện sự rẻ rúng

⇒ Hai vế đối lập: “cái hồng nhan” >< “với nước non”

⇒ Bi kịch người phụ nữ trong xã hội

2. Hai câu thực: Diễn tả rõ nét hơn tình cảnh lẻ loi và nỗi niềm buồn tủi

• Câu 3: gợi lên hình ảnh người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng với bao xót xa

- Chén rượu hương đưa: Tình cảnh lẻ loi, mượn rượu để giải sầu

- Say lại tỉnh: vòng luẩn quẩn không lối thoát, cuộc rượu say rồi tỉnh cũng như cuộc tình vướng vít cũng nhanh tan, để lại sự rã rời

⇒ Vòng luẩn quẩn ấy gợi cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của số phận

• Câu 4: Nỗi chán chường, đau đớn e chề

- Hình tượng thơ chứa hai lần bi kịch:

    + Vầng trăng bóng xế: Trăng đã sắp tàn ⇒ tuổi xuân đã trôi qua

- Khuyết chưa tròn: Nhân duyên chưa trọn vẹn, chưa tìm được hạnh phúc viên mãn, tròn đầy ⇒ sự muộn màng dở dang của con người

- Nghệ thuật đối → tô đậm thêm nỗi sầu đơn lẻ của người muộn màng lỡ dở

⇒ Niềm mong mỏi thoát khỏi hoàn cảnh thực tại nhưng không tìm được lối thoát.

3. Hai câu luận: Nỗi niềm phẫn uất, sự phản kháng của Xuân Hương

- Cảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang niềm phẫn uất và bộc lộ cá tính:

    + Rêu: sự vật yếu ớt, hèn mọn mà cũng không chịu mềm yếu

    + Đá: im lìm nhưng nay phải rắn chắc hơn, phải nhọn hoắt lên để “đâm toạc chân mây”

    + Động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với bổ ngữ ngang, toạc: thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh

    + Nghệ thuật đối, đảo ngữ ⇒ Sự phản kháng mạnh mẽ dữ dội, quyết liệt

⇒ sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng

⇒ Sự phản kháng của thiên nhiên hay cũng chính là sự phản kháng của con người

4. Hai câu kết: Quay trở lại với tâm trạng chán trường, buồn tủi

• Câu 7: - Ngán: chán ngán, ngán ngẩm

- Xuân đi xuân lại lại: Từ “xuân” mang hai ý nghĩa, vừa là mùa xuân, đồng thời cũng là tuổi xuân

⇒ Mùa xuân đi rồi trở lại theo nhịp tuần hoàn còn tuổi xuân của con người cứ qua đi mà không bao giờ trở lại ⇒ chua chát, chán ngán

• Câu 8:- Mảnh tình: Tình yêu không trọn vẹn

- Mảnh tình san sẻ: Càng làm tăng thêm nỗi chua xót ngậm ngùi, mảnh tình vốn đã không được trọn vẹn nhưng ở đây còn phải san sẻ

- Tí con con: tí và con con đều là hai tính từ chỉ sự nhỏ bé, đặt hai tính từ này cạnh nhau càng làm tăng sự nhỏ bé, hèn mọn

⇒ Mảnh tình vốn đã không được trọn vẹn nay lại phải san sẻ ra để cuối cùng trở thành tí con con

⇒ Số phận éo le, ngang trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải chịu thân phận làm lẽ

5. Nghệ thuật

- Ngôn ngữ thơ điêu luyện, bộc lộ được tài năng và phong cách của tác giả:

    + Sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu sức tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, đa nghĩa

- Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ: câu hỏi 2, câu 5 và câu 6

- Sử dụng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc.

III. Kết bài

- Khẳng định lại những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Thông qua bài thơ thể hiện giá trị hiện thực và bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâu sắc của một nhà thơ “phụ nữ viết về phụ nữ”

19:46 - 27/09/2020

Meo Meo
Giúp em với ạ lập dàn ý tâm trạng Hồ Xuân Hương trong bài tự tình

19:43 - 27/09/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, em tham khảo gợi ý sau em nhé:

I. Mở bài

- Trình bày những nét tiêu biểu về nữ sĩ Hồ Xuân Hương: Nữ sĩ được mệnh danh: “Bà chúa thơ Nôm” với rất nhiều những bài thơ thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp và niềm cảm thông, thương xót cho số phận những người phụ nữ

- Giới thiệu bài thơ Tự tình II: Đây là một trong số 3 bài thơ trong chùm thơ Tự tình thể hiện nỗi niềm buồn tủi trước cảnh ngộ lỡ làng

II. Thân bài

1. Hai câu đề: Nỗi niềm buồn tủi, chán chường

• Câu 1: Thể hiện qua việc tái hiện bối cảnh:

- Thời gian: + Đêm khuya, trống canh dồn – nhịp gấp gáp, liên hồi của tiếng trống thể hiện bước đi thời gian gấp gáp, vội vã ⇒ Con người chất chứa nỗi niềm, bất an

- Không gian: “văng vẳng”: lấy động tả tĩnh ⇒ không gian rộng lớn nhưng tĩnh vắng

⇒ Con người trở nên nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn

• Câu 2: Diễn tả trực tiếp nỗi buồn tủi bằng cách sử dụng từ ngữ gây ấn tượng mạnh:

- Từ “trơ” được nhấn mạnh: nỗi đau, hoàn cảnh “trơ trọi”, tủi hờn, đồng thời thể hiện bản lĩnh thách thức, đối đầu với những bất công ngang trái

- Cái hồng nhan: Kết hợp từ lạ thể hiện sự rẻ rúng

⇒ Hai vế đối lập: “cái hồng nhan” >< “với nước non”

⇒ Bi kịch người phụ nữ trong xã hội

2. Hai câu thực: Diễn tả rõ nét hơn tình cảnh lẻ loi và nỗi niềm buồn tủi

• Câu 3: gợi lên hình ảnh người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng với bao xót xa

- Chén rượu hương đưa: Tình cảnh lẻ loi, mượn rượu để giải sầu

- Say lại tỉnh: vòng luẩn quẩn không lối thoát, cuộc rượu say rồi tỉnh cũng như cuộc tình vướng vít cũng nhanh tan, để lại sự rã rời

⇒ Vòng luẩn quẩn ấy gợi cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của số phận

• Câu 4: Nỗi chán chường, đau đớn e chề

- Hình tượng thơ chứa hai lần bi kịch:

    + Vầng trăng bóng xế: Trăng đã sắp tàn ⇒ tuổi xuân đã trôi qua

- Khuyết chưa tròn: Nhân duyên chưa trọn vẹn, chưa tìm được hạnh phúc viên mãn, tròn đầy ⇒ sự muộn màng dở dang của con người

- Nghệ thuật đối → tô đậm thêm nỗi sầu đơn lẻ của người muộn màng lỡ dở

⇒ Niềm mong mỏi thoát khỏi hoàn cảnh thực tại nhưng không tìm được lối thoát.

3. Hai câu luận: Nỗi niềm phẫn uất, sự phản kháng của Xuân Hương

- Cảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang niềm phẫn uất và bộc lộ cá tính:

    + Rêu: sự vật yếu ớt, hèn mọn mà cũng không chịu mềm yếu

    + Đá: im lìm nhưng nay phải rắn chắc hơn, phải nhọn hoắt lên để “đâm toạc chân mây”

    + Động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với bổ ngữ ngang, toạc: thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh

    + Nghệ thuật đối, đảo ngữ ⇒ Sự phản kháng mạnh mẽ dữ dội, quyết liệt

⇒ sức sống đang bị nén xuống đã bắt đầu bật lên mạnh mẽ vô cùng

⇒ Sự phản kháng của thiên nhiên hay cũng chính là sự phản kháng của con người

4. Hai câu kết: Quay trở lại với tâm trạng chán trường, buồn tủi

• Câu 7: - Ngán: chán ngán, ngán ngẩm

- Xuân đi xuân lại lại: Từ “xuân” mang hai ý nghĩa, vừa là mùa xuân, đồng thời cũng là tuổi xuân

⇒ Mùa xuân đi rồi trở lại theo nhịp tuần hoàn còn tuổi xuân của con người cứ qua đi mà không bao giờ trở lại ⇒ chua chát, chán ngán

• Câu 8:- Mảnh tình: Tình yêu không trọn vẹn

- Mảnh tình san sẻ: Càng làm tăng thêm nỗi chua xót ngậm ngùi, mảnh tình vốn đã không được trọn vẹn nhưng ở đây còn phải san sẻ

- Tí con con: tí và con con đều là hai tính từ chỉ sự nhỏ bé, đặt hai tính từ này cạnh nhau càng làm tăng sự nhỏ bé, hèn mọn

⇒ Mảnh tình vốn đã không được trọn vẹn nay lại phải san sẻ ra để cuối cùng trở thành tí con con

⇒ Số phận éo le, ngang trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải chịu thân phận làm lẽ

5. Nghệ thuật

- Ngôn ngữ thơ điêu luyện, bộc lộ được tài năng và phong cách của tác giả:

    + Sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu sức tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, đa nghĩa

- Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ: câu hỏi 2, câu 5 và câu 6

- Sử dụng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc.

III. Kết bài

- Khẳng định lại những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Thông qua bài thơ thể hiện giá trị hiện thực và bộc lộ tấm lòng nhân đạo sâu sắc của một nhà thơ “phụ nữ viết về phụ nữ”

19:45 - 27/09/2020

Tạ Qúy Dương
mod hỗ trợ e bài này vs .Viết đoạn văn khoảng 200 chữ bày tỏ suy nghĩ về cuộc sống ăn quá no, mặc quá ấm, thiếu vận động, thiếu giao lưu kết nối

12:26 - 15/09/2020

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Em làm bài rồi gửi lại cô sẽ chữa cho nhé

13:37 - 15/09/2020

Meo Meo
việc cần thiết xin lập khoa luật là gì ạ

22:17 - 10/09/2020

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Em tham khảo nhé:

– Tác giả khẳng định cần lập khoa luật vì luật giúp cai trị xã hội, duy trì sự ổn định của xã hội.

– Luật quy định cả những mối quan hệ đạo đức.

– Luật mang đến sự công bằng hơn.

07:56 - 11/09/2020

Ngọc Như
Video 2. 22:27 “lộng quyền tiếm lể” vậy tiếm lể là gì ạ

19:44 - 09/09/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, ý cô giáo muốn nói là chúa Trịnh làm việc ngang ngược vượt quyền hạn của mình, lấn át cả quyền hạn của vua Lê em nha. 

20:10 - 09/09/2020

Meo Meo
Có thể lấy vd cho em là trg hợp nào dùng ẩn dụ, trg hợp nào dùng hoán dụ ạ

17:10 - 09/09/2020

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Em tham khảo nhé:
- Ẩn dụ: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/ Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ (mặt trời trong câu thơ t2 là ẩn dụ cho Bác Hồ)
- Hoán dụ: Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm (bàn tay là ẩn dụ chỉ con người)

17:13 - 09/09/2020

Thu Hiền
Cô giảng hơi bị hay đấy🙆

17:35 - 08/09/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Cảm ơn em, chúc em học tốt. 

19:32 - 08/09/2020

Nguyễn Thị Hằng Nga
gường máy phục vụ hay là guồng máy z ạ

09:32 - 16/08/2020

Chuyên gia - Linh Linh

Chào bạn. Là guồng máy nha ạ.

20:41 - 20/08/2020

GVHT Văn - Hương Lan
Chào em, em viết rõ câu hỏi vào đây nhé!

08:29 - 17/08/2020

Lưu Phương
guồng bạn ạ

23:24 - 17/08/2020

Vo Thu Quyen
cô ơi cô viết chữ đẹp một xíu được không cô chứ con không thấy gì hết

16:12 - 03/08/2020

GVHT Văn - Hương Lan
Chào em, cảm ơn em đã góp ý.

09:22 - 04/08/2020

Vo Thu Quyen
Mà trong câu "Trơ cái hồng nhan với nước non làm sao mình đếm đc nhịp ngắt là 1/3/3 ạ

15:33 - 03/08/2020

GVHT Văn - Hương Lan
Chào em, cô đã giải thích với em rồi thì phải. Em đọc lên em ngắt theo các từ và cụm từ nhé! Em có hiểu khái niệm từ và cụm từ không em. Cả câu thơ đó đương nhiên người đọc sẽ phải ngắt "Trơ/cái hồng nhan/với nước non". Còn em không hiểu bản chất thì em có cmt ở bài nào thì GV cũng sẽ trả lời cho em vậy thôi.

09:21 - 04/08/2020

Vo Thu Quyen
Meo Meo:Cho em hỏi hoán dụ là như thế nào ví dụ như từ hồng nhan làm sao biết đc là hoán dụ chỉ người con gái đẹp ạ

15:32 - 03/08/2020

GVHT Văn - Hương Lan
Chào em, em đã xem lại biện pháp hoán dụ là gì chưa? Hôm trước hình như em có hỏi rồi và cô có nói với em thế nào là hoán dụ rồi. Để biết được thì em phải hiểu khái niệm, phân loại.

09:19 - 04/08/2020

Meo Meo
Mà trong câu "Trơ cái hồng nhan với nước non làm sao mình đếm đc nhịp ngắt là 1/3/3 ạ

09:40 - 28/07/2020

GVHT Văn - Hương Lan
Chào em, em đọc câu thơ lên có nhịp ngắt rõ ràng cho từng từ và cụm từ mà em: "Trơ/cái hồng nhan/với nước non".

09:57 - 28/07/2020

Meo Meo
Cho em hỏi hoán dụ là như thế nào ví dụ như từ hồng nhan làm sao biết đc là hoán dụ chỉ người con gái đẹp ạ

09:39 - 28/07/2020

GVHT Văn - Hương Lan
Chào em, hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi, hình gợi cảm cho sự diễn đạt.

Hoán dụ gồm có 4 kiểu thường gặp:

  • Lấy một bộ phận để gọi toàn thể;
  • Lấy một vật chứa đựng để gọi 1 vật bị chứa đựng;
  • Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật;
  • Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

10:25 - 28/07/2020

Nguyễn Trang Nhung
dạ cho e hỏi có phải cô viết lộn năm sinh của tác giả ko ạ

15:49 - 05/07/2020

GVHT Văn - Hương Lan
Chào em, cô viết nhầm em nhé! Cảm ơn em đã góp ý.

08:41 - 06/07/2020

Danh sách bài giảng cùng chuyên đề

Bài 1. Vào phủ chúa Trịnh 01:00:22

Đã phát hành: 10/04/2020

Bài 2. Tự tình II - Tiết 1 50:48

Đã phát hành: 13/04/2020

Bài 3. Tự tình II - Tiết 2 49:27

Đã phát hành: 15/04/2020

Bài 6. Tiến sĩ giấy 49:25

Đã phát hành: 22/04/2020

Bài 7. Thương vợ - Tiết 1 41:56

Đã phát hành: 25/04/2020

Bài 8. Thương vợ - Tiết 2 35:44

Đã phát hành: 28/04/2020

Bài 12. Lẽ ghét thương 01:20:56

Đã phát hành: 08/05/2020

Bài 29. Tác gia Nam Cao 56:09

Đã phát hành: 28/06/2020

Bài 30. Chí Phèo - Tiết 1 43:50

Đã phát hành: 30/06/2020

Bài 31. Chí Phèo - Tiết 2 47:33

Đã phát hành: 03/07/2020

Bài 32. Chí phèo - Tiết 3 54:06

Đã phát hành: 05/07/2020

Bài 33. Chí Phèo - Tiết 4 50:36

Đã phát hành: 07/07/2020

Bài 34. Đời thừa - Tiết 1 46:50

Đã phát hành: 10/07/2020

Bài 35. Đời thừa - Tiết 2 35:25

Đã phát hành: 15/07/2020

Bài 36. Đời thừa - Tiết 3 40:59

Đã phát hành: 20/07/2020

Bài 43. Hầu trời 01:00:06

Đã phát hành: 26/08/2020

Bài 44. Tác gia Xuân Diệu 01:34:24

Đã phát hành: 28/08/2020

Bài 45. Vội Vàng - Tiết 1 43:56

Đã phát hành: 01/09/2020

Bài 46. Vội Vàng - Tiết 2 53:29

Đã phát hành: 04/09/2020

Bài 47. Tràng giang - Tiết 1 48:10

Đã phát hành: 09/09/2020

Bài 48. Tràng giang - Tiết 2 50:09

Đã phát hành: 11/09/2020

Bài 51. Chiều tối 52:23

Đã phát hành: 19/09/2020

Bài 52. Từ ấy - Tiết 1 39:00

Đã phát hành: 24/09/2020

Bài 53. Từ ấy - Tiết 2 34:48

Đã phát hành: 29/09/2020

Bài 54. Lai Tân 49:21

Đã phát hành: 03/10/2020

Bài 55. Tôi yêu em 45:19

Đã phát hành: 08/10/2020

Đăng Nhập

  • Lưu ý: Tên tài khoản hay tên đăng nhập là một

  • | Quên mật khẩu ?
  • Lưu ý: Nếu bạn không thể đăng nhập thông qua tài khoản Facebook hãy liên hệ Hotline 024.7300.7989 để giúp bạn chuyển sang tài khoản trên trang.

  • Chưa có tài khoản Tuyensinh247.com? Đăng ký ngay !