Bài 2. Tuyên ngôn độc lập

Chú ý: Trình duyệt hiện tại của bạn chưa cài đặt flashplayer để xem video.

Vui lòng tải và cài đặt phiên bản flash mới nhất tại đây sau đó ấn Ctrl-F5 để xem video hoặc bạn nên dùng trình duyệt Chrome để xem video tốt hơn - Tải Chrome về

Đính Chính: Phút thứ

  • 1. Tuyên ngôn độc lập - phần 1

    28:43

  • 2. Tuyên ngôn độc lập - phần 2

    39:42

  • 3. Tuyên ngôn độc lập - phần 3

    28:31

  • 4. Tuyên ngôn độc lập - phần 4

    18:58

Hỏi đáp và thảo luận

Thụcc Nghii
Cô ơi, em muốn gửi các bài văn nghị luận văn học cho thầy cô để sửa lại câu từ thì làm như thế nào ạ ?

15:42 - 03/08/2021

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Em viết bài rồi gửi qua bình luận nhé, khi gửi bài nhớ ghi đề bài nha em

16:11 - 03/08/2021

Hồng Ngát
Với đề minh họa năm nay thì để được 9 điểm thì cần ôn kĩ các kiến thức nào vậy thầy cô

12:13 - 02/04/2021

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, em cần ôn kĩ kiến thức lớp 12, ôn tập cả những kiến thức nâng cao, mở rộng; viết văn mạch lạc, ngôn ngữ uyển chuyển, có cảm xúc em nha. 

21:17 - 02/04/2021

Hồng Ngát
Phải viết như nào để không mất điểm ạ

12:13 - 02/04/2021

Thành
cô ơi cho e hỏi khi viết bài văn nghị luận văn học thì phần mở bài có cần nêu năm sinh ,năm mất và quê quán của tác giả không ạ

18:20 - 01/02/2021

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, năm sinh năm mất có thể em không cần giới thiệu đâu em, em cần chú ý đến vị trí của nhà văn/ nhà thơ đó trong nền văn học nghệ thuật em nhé. Còn quê quán, nếu quan trọng, ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật của nhà văn/ nhà thơ thì em nhắc đến em nhé. 

19:26 - 01/02/2021

Mỹ Lộc
Cho em.xin dàn bài vừa là 1 văn kiện lịch sử vừa là tác phẩm văn học ạ

08:30 - 01/11/2020

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Là sao em nhỉ? Cô chưa hieeur ý em

08:39 - 01/11/2020

Mỹ Lộc
Dàn bài chứng minh TNĐL vừa là văn kiện lịch sử vừa là tác phẩm văn học ạ

09:02 - 01/11/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
Em tham khảo bài này nhé

MB:

- Giới thiệu tác giả tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác

- Nêu nội dung đề bài

TB:

1.    Tuyên ngôn Độc lập  là một văn kiện lịch sử vô giá 

- Bởi vì Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện quan trọng được công bố ngay sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại thành công trong cả nước. Văn kiện này có giá trị lịch sử, giá trị tinh thần, giá trị pháp lý thật to lớn.
- Một là, Tuyên ngôn Độc lập đã thẳng thắn tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam.
Nói về thắng lợi vĩ đại này Trần Dân Tiên viết “Bản Tuyên ngôn Độc lập là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hy sinh của những người con anh dũng Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả bao nhiêu hi vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam".
- Lời Tuyên ngôn Độc lập như sấm dậy vang khắp non sông truyền đi khắp thế giới: “ Pháp chạy, Nhật hàng, Vua bảo Đại thoái vị. Nhân dân  ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta đã đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
- Hai là, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng khái bác bỏ dứt khoát những luận điệu sai trái của bọn thực dân Pháp và tuyên bố về mối quan hệ với Pháp.
Khi đó, Nhật đã đầu hàng Đồng minh, các lực lượng phản động, thực dân đế quốc đang âm mưu xâm chiếm nước ta, lấy danh nghĩa quân Đồng minh vào nước ta để tước khí giới quân đội Nhật. Tiến vào phía Bắc Việt nam là đội quân Quốc dân đảng Trung Quốc,  đằng sau là đế quốc Mỹ với âm mưu: “ Diệt cộng, cầm Hồ”, tiến vào phía Nam Việt Nam là đội quân Anh, đằng sau là lính viễn chinh Pháp thực hiện âm mưu tái xâm lược Việt Nam. Lúc này bọn thực dân Pháp ngang nhiên tuyên bố: Đông Dương là “đất bảo hộ” của người Pháp bị Nhật chiếm đóng, nay Nhật đã đầu hàng, do vậy Đông Dương đương nhiên thuộc quyền của người Pháp.
- Tuyên ngôn Độc lập đã nêu lên những vẫn đề có tính chất pháp lý, lý lẽ rõ ràng đanh thép. Tố cáo những tội ác dã man, vô nhân đạo, sự phản bộ, sự hèn nhát của bọn thực dâp Pháp, với những chứng cứ minh bạch để phủ quyết vai trò “ bảo hộ” của chúng. Từ mùa thu năm 1940 Phát xit Nhật xâm lược Đông Dương thì bọn Thực dân Pháp đã quỳ gối đầu hàng, “Mở cửa nước ta rước Nhật”, ngày chính biến 9-3-1945 bọn chúng “ hoặc đã bỏ chạy, hoặc đã đầu hàng” thế là “ Trong 5 năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật”. Khi lực lượng Việt Minh kêu gọi người Pháp liên minh chống Nhật “ Bọn thực dân pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, thậm chí đến khi thua chạy chúng còn nhẫn tâm giết một số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”
Tuyên ngôn Độc lập còn nêu rõ sự thật để làm căn cứ tuyên bố về mối quan hệ Việt Nam - Pháp: “ Sự thật từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải là thuộc địa của Pháp” và “ sự thật là dân ta đã lấy lại Nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”
Bởi những lẽ trên Tuyên ngôn Độc lập  tuyên bố: “ Thoát ly hẳn quan hệ với thực dân pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”
- Ba là, Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện rõ lập trường sắt đá thái độ kiên quyết của Chính phủ lâm thời và của nhân dân Việt Nam về quyền tự do độc lập.
Trước những âm mưu xâm lược của các lực lượng phản động, thực dân đế quốc đặc biệt là âm mưu xâm lược của thực dân pháp, Tuyên ngôn Độc lập  vang lên như lời thề quyết chiến: “ Toàn dân việt nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”, mặt khác tin tưởng và đinh ninh rằng: “ các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”
- Tuyên ngôn Độc lập còn tuyên bố với thế giới về quyền hưởng tự do độc lập và tinh thần giữ vững quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam. Lời văn vang lên như lời hịch non sông: “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”
è Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử vô giá, bởi giá trị lịch sử, giá trị tinh thần, giá trị pháp lý trong quá khứ và còn nguyên giá trị trong hiện tại và tương lai.

2. Tuyên ngôn Độc lập một kiệt tác chính luận
- Người soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập là Chủ tịch Hồ chí Minh lãnh tụ tối cao của dân tộc, nhà văn hóa lớn của nhân loại. Từ khi ra đời 2-9-1945 Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành một kiệt tác chính luận, có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam.
Thứ nhất, Tuyên ngôn Độc lập là văn bản chính luận mẫu mực có kết cấu chặt chẽ, chiến lược trình bày vấn đề rõ ràng, lời văn vừa giản dị trong sáng vừa hùng hồn cảm xúc, thể hiện ở đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ.
- Ở phần đầu văn bản Tuyên ngôn Độc lập Người đã đưa ra luận điểm cơ bản về quyền tự do độc lập có tính nguyên lý với tính mục đích cao. Người trích dẫn trực tiếp bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776: “ Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
- Đấy là lời bất hủ về quyền con người, dựa vào đó Chủ tịch Hồ chí Minh suy rộng ra làm luận điểm chính: “ tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đó là luận điểm của Người về quyền tự do độc lập của các dân tộc trên toàn thế giới. Sau đó Người lại trích một câu trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1971: “ Người ta sinh ra tự do bình đẳng và quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”, nó đồng quan điểm với lời Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ . Việc trích dẫn trực tiếp như thế có tác dụng như một lá chắn thép bảo vệ luận điểm của mình, vừa như một điểm tựa bẩy luận điểm của mình lên cao, đồng thời để chứng minh làm sáng tỏ luận điểm ấy. Sau đó người đi đến khẳng định: “ Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”
Như thế, luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vê quyền tự do độc lập trở thành một chân lý mà tất cả mọi người phải thừa nhận. Hơn nữa luận điểm của Người lại rộng hơn, mang tính thời đại, mang  tính quốc tế, không phải chỉ có độc lập tự do của một đân tộc ta mà là độc lập tự do của tất cả các dân tộc trên thế giới. Lẽ đương nhiên là nó đứng ngang hàng với các chân lý trong hai bản tuyên ngôn của nước Mỹ và của cách mạng Pháp.
- Để làm sáng tỏ chân lý trên, chiến lược trình bày của Người ở phần chính văn bản Tuyên ngôn Độc lập  thể hiện bằng hai luận chứng chủ yếu:
- Luận chứng thứ nhất, tương ứng với đoạn văn bản đầu của phần chính, từ “ Thế mà hơn 80 năm nay....” đến “ ....Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”. Luận chứng này được trình bày theo kiểu suy luận diễn dịch nhưng lý lẽ, dẫn chứng lại tương phản và đối lập với chân lý nêu trên.
- Người đưa ra lý lẽ: “ Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cước nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Dẫn chứng lại rất cụ thể và xác thực về hai mặt là chính trị và kinh tế.
Về chính trị, gồm 5 vấn đề chính, tóm lại là: về dân chủ " chúng không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”; về luật pháp  " Chúng thi hành những luật pháp dã man", thực hiện chia để trị “ lập ra ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc” ngăn cản việc thống nhất nước nhà  của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết"; sự đàn áp thì rất tàn khốc “ Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” , "thẳng tay chém giết", “ tắm những cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”; áp dụng “ Chính sách ngu dân”,  dã man hơn là “ dùng thuốc phiện rượu cồn để nòi giống ta suy nhược”
Về kinh tế, gồm 4 vấn đề chính, tóm lại là: nặng nề nhất: “ Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy”; đau đớn thay: “ Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”, lại “ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng”; tai hại hơn “ chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý” và “ không cho các nhà tư bản của ta ngóc đầu dậy” làm cho nhân dân ta “ nhất là dân cày, dân buôn ngày càng trở lên bần cùng”; ở công trường, xưởng máy “Chúng bóc lột  công nhân ta  một cách vô cùng tàn nhẫn”
Đó là những hành động vô cùng tàn bạo, những chính sách cực kỳ phản động của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam, rõ ràng là “ trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.
Luận chứng thứ hai, tương ứng với đoạn văn bản sau của phần chính là “ Từ mùa thu năm 1940...” đến “...Dân tộc đó phải được độc lập!”.
- Luận chứng này là luận chứng cơ bản, Người trình bày theo kiểu suy luận nhân quả, đó là nguyên nhân và kết quả của cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Người dùng luận chứng thứ nhất phục vụ cho luận chứng thứ hai là nêu lên nguyên nhân sâu xa và cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám.
- Người nêu lên những nguyên nhân khách quan thuộc về phía Pháp,  Nhật. Nguyên nhân  thuộc về phía Pháp đặc biệt là khi Nhật đến xâm lăng Đông Dương thì bọn thực dân Pháp “ đã quỳ gối đầu hàng”, “ mở cửa nước ta rước Nhật”. Từ đó nhân dân ta phải chịu “ hai tầng xiềng xích” dẫn đến “dân ta càng cực khổ nghèo nàn”, thảm họa đã xảy ra “ cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”. Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật làm đảo chính, bọn thực dân Pháp “ hoặc đã bỏ chạy, hoặc đã đầu hàng”. Thế là “Trong 5 năm chúng đã hai lần bán nước ta cho Nhật”. Khi lực lượng Việt Minh kêu gọi người Pháp liên minh chống Nhật “ Bọn thực dân pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, thậm chí đến khi thua chạy chúng còn nhẫn tâm giết một số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”. Nguyên nhân này chỉ ra chế độ thực dân Pháp đã sụp đổ hoàn toàn ở Việt Nam.
- Nguyên nhân về phía Nhật, chúng cấu kết với bọn thực dân Pháp đã gây cho nhân dân Việt Nam muôn vàn tội ác dã man. Một tội ác tày trời là đã trực tiếp gây ra nạn đói:" cuối năm năm ngoái đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói". Một nguyên nhân khách quan đến đó là “ Nhật đầu hàng Đồng minh”, tạo ra thời cơ nghìn năm có một cho nhân dân ta nổi dậy buộc Nhật phải hàng Việt Minh, trao trả chính quyền. Việc này chỉ ra chủ nghĩa phát xít Nhật đã hoàn toàn bị đánh bại ở Việt Nam.
- Nguyên nhân chủ quan thuộc về phía nhân dân Việt nam, phần này Người không trực tiếp trình bày trong một đoạn văn cụ thể nào, nhưng khi đọc  Tuyên ngôn Độc lập mọi người Việt Nam đều rất tự hào là một dân tộc đã anh dũng chống lại ách nô lệ của thực dân pháp hơn 80 năm, một dân tộc đã kiên cường đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, nhất là dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đã nhanh chóng chớp thời cơ nổi dậy giành chính quyền trong tay Nhật lập nên nước Việt Nam mới.
- Kết quả của Cách mạng tháng Tám giành tự do độc lập là hết sức nhanh chóng, hết sức vĩ đại “ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.
Sự thành công của Cách mạng tháng Tám đã làm sáng tỏ sự thật đã nêu trên. Nhân dân Việt Nam đã vì lẽ phải, vì chính nghĩa đã anh dũng đứng lên chặt đứt các xiềng xích: thực dân, phát xít, phong kiến giành tự do độc lập. Đã chứng minh cho chân lý thời đại: Không có gì quý hơn độc lập  tự do!
- Về quan hệ mới Việt Nam với Pháp, bản Tuyên ngôn Độc lập nêu rõ lập trường, quan điểm của nhân dân và Chính phủ lâm thời Việt Nam. Căn cứ vào những điều đã nêu thì bọn thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái chúng đã gây ra những tội ác tày trời, vô nhân đạo đối với dân tộc ta. Chúng đã đầu hàng Nhật, phản bội Đồng minh và Việt Minh, “ sự thật nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp” và “ sự sự thật là nhân dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”. Điều đó nói lên chế độ thực dân Pháp ở  Việt Nam đã sụp đổ hoàn toàn không còn dính líu gì đến Việt Nam. Điều trên vừa có lý vừa có tình để tỏ rõ một thái độ dứt khoát và rất kiên quyết của Chính phủ lâm thời Việt nam Dân chủ Cộng hòa và của dân tộc ta. Nội dung tuyên bố với Pháp: “ Thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước việt Nam, xóa bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”
- Trước những âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, Người nêu lên quyết tâm sắt đá của dân tộc ta “ Toàn dân Việt nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”. Người tin tưởng các nước Đồng minh đã công nhận các nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam". Người kết luận đanh thép “ Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đa gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”.
Phần kết thúc của bản Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố độc lập tự do, đó là mục đích cao nhất của văn bản chính luận này. 
Đó là lời tuyên bố trịnh trọng của Chính phủ lâm thời trước nhân dân Việt Nam và trước nhân dân thế giới: " Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập", chính vì có quyền hưởng tự do độc lập, nên mới có quyết tâm sắt đá: “ Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy.”.
è Như thế, chiến lược trình bày vấn đề của Người rất nhất quán thể hiện trong một cấu trúc rất hoàn thiện, vừa nêu vấn đề vừa trực tiếp biểu thị thái độ, công khai bình giá, nhất là khi đưa ra một luận điểm có tính chất là một chân lý, với những luận chứng rõ ràng, minh bạch, thái độ dứt khoát, kiên quyết, đã thu phục tinh thần, trí tuệ, tình cảm của người đọc, người nghe.
Mặt khác, lời văn Tuyên ngôn Độc lập  thật giản dị trong sáng, thật hùng hồn cảm xúc thể hiện ở đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ.

          Lời văn Tuyên ngôn Độc lập thật giản dị trong sáng, nó giản dị như tác phong của Người, trong sáng như tâm hồn của Người. Giản dị bởi nó là lời ăn tiếng nói của nhân dân dùng hàng ngày, được Người đưa vào bài văn nên ai nghe, ai đọc cũng dễ cảm, dễ hiểu.  Những từ ngữ rất đỗi thân quen mà diễn tả ý nghĩa thật sâu xa như “ lẽ phải”, “trái hẳn”, “ một chút”, “ thẳng tay”, “ngóc đầu”, “ quỳ gối”, “mở cửa”...Người dùng điệp ngữ “ Chúng tuyệt đối không cho..”, “ Chúng thi hành...”, “chúng lập ra....”, “Chúng rằng buộc...”...vừa có giá trị liệt kê tội ác chất chồng của giặc vừa có giá trị tăng tiến dồn nén nỗi đau, lòng căm thù. Người cũng dùng phép chuyển nghĩa: “ chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, “ chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy”, “ dân ta chịu hai tầng xiềng xích”... tạo nên những hình tượng ngôn ngữ sinh động, gây ấn tượng sâu sắc.

Về câu, Người dùng phối hợp cả câu ngắn và câu dài. Loại câu nào cũng hấp dẫn vì nội dung và cách diễn đạt rất mới mẻ, người nghe, người đọc rất dễ nhớ, dễ thuộc. Câu ngắn dùng làm kết luận, khẳng định: “ Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Hay câu ngắn để diễn tả những diễn biến nhanh chóng các sự kiện “ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, hoặc để tạo ra giọng đanh thép, Người viết những câu cảm có ý nghĩa khẳng định rất ngắn: “ dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”

Ở những câu dài, Người dùng lối song hành cú pháp, khi thì lặp bộ phận: “ tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”..Khi thì lặp cấu trúc câu: “ Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa” cách viết này vừa triển khai được ý trọn vẹn hơn, vừa đúc kết chân lý vĩnh cửu trong những khuôn hình câu rất vững chắc...

Lời văn trong Tuyên ngôn Độc lập  rất mực trong sáng. Trong sáng bởi tâm hồn người viết rất trong sáng. Người luôn luôn nghĩ đến quyền con người, quyền dân tộc cụ thể là “ quyền bình đẳng”,  “quyền sống”, “ quyền sung sướng”, “ quyền tự do” là rất đỗi thiêng liêng đối với người dân nô lệ, những dân tộc bị áp bức mất tự do. Người luôn nghĩ đến  cái cao cả như “ lẽ phải”, “ nhân đạo”, “ chính nghĩa”, nghĩ đến “ đồng bào”, “ đất nước”, nghĩ đến sự đoàn kết, hy sinh...Những cái đó phản ánh một tâm hồn cao thượng trong sáng, tinh khiết của một con người đã hiến dâng tất cả đời mình vì độc lập, tự do, vì hạnh phúc con người, vì lẽ sống, vì niềm tin. Tâm hồn ấy rực sáng như mặt trời, trong suốt như pha lê được thể hiện trong từng chữ, từng câu.

è Như vậy, Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận mẫu mực thể hiện ở kết cấu, ở chiến lược trình bày, ở lời văn. Tất cả những cái đó có được là nhờ tài  năng biểu hiện sinh động nghệ thuật ngôn từ ở đỉnh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

- Thứ hai, Tuyên ngôn Độc lập có giá trị bền vững về lịch sử, nhân bản và thẩm mỹ.
Về giá trị lịch sử: Tuyên ngôn Độc lập là trung tâm sự kiện của Cách mạng tháng Tám, mốc son lịch sử chói ngời của dân tộc Việt Nam trên chặng đường dài lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, chống chế độ phong kiến. Tuyên ngôn Độc lập đã tố cáo những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân, phát xít, phong kiến trong lịch sử để đời đời khắc cốt ghi xương. Ghi lại những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam đánh bại chủ nghĩa phát xít, đánh đổ xiềng xích thực dân, đánh đổ chế độ phong kiến đã lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Đưa ra được những tuyên bố lịch sử: “ Thoát ly hẳn quan hệ thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ hết mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”. Tuyên bố với toàn thể nhân dân ta và nhân dân thế giới: Nước Việt Nam “ đã thành một nước tự do, độc lập” có quyền hưởng và quyền giữ vững độc lập, tự do của mình. Giá trị lịch sử của bản Tuyên ngôn Độc lập còn ở tính pháp lý, bởi tất cả các nước phải công nhận và nhất thiết phải công nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, bất kỳ nước nào, lực lượng nào, bất kỳ ai đều không có quyền xâm phạm tới.


KB:

Tuyên ngôn Độc lập  mãi mãi là thông điệp thẩm mỹ, dấy lên trong mỗi chúng ta những hình ảnh cao đẹp về đất nước về con người về dân tộc Việt Nam. Tác động thẩm mỹ ấy sẽ là mạnh mẽ và lâu dài đến nhiều thế hệ những người yêu nước Việt Nam.
Như vậy, Tuyên ngôn Độc lập là một kiệt tác về chính luận, chiếm một đỉnh cao của nền văn học Việt Nam; có sức sống mãnh liệt trong thời đại Hồ Chí Minh và mãi mãi bất tử trong lịch sử vinh quang của dân tộc ta.

09:47 - 02/11/2020

Mỹ Lộc
Cho em xin dàn bài phân tích nghệ thuật lập luận TNĐL ạ

08:29 - 01/11/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
Chào em, em tham khảo nha

I. Mở bài

- Giới thiệu một số nét tiêu biểu về tác giả Hồ Chí Minh: Cuộc đời, sự nghiệp sáng cách mạng và sáng tác.

- Nêu khái quát chung về bản “Tuyên ngôn độc lập”: hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung, giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật (lập luận chặt chẽ, sắc sảo, là áng văn chính luận mẫu mực).

II. Thân bài

1. Cấu trúc lập luận của bản Tuyên ngôn độc lập

- Bản tuyên ngôn có cấu trúc lập luận logic, chặt chẽ với ba vấn đề chính:

  • Cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn: quyền con người, quyền dân tộc (quyền bình đẳng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc...)
  • Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn: Vạch trần bản chất độc ác, xảo trá của thực dân Pháp; công cuộc đấu tranh vì chính nghĩa của nhân dân ta.
  • Lời tuyên bố độc lập: khẳng định trước thế giới về nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam, bày tỏ ý chí giữ vững nền độc lập ấy.

2. Lập luận chứng minh cho cơ sở pháp lý của bản Tuyên ngôn độc lập

- Hồ Chí Minh đã dùng lời trong Tuyên ngôn độc lập của Mĩ (“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng ... ”) và Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân quyền của Pháp (“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng ...”) làm cơ sở pháp lý.

- Ý nghĩa:

  • Lí lẽ thuyết phục hơn bởi đây là hai tuyên ngôn được nhân dân thế giới công nhận, Mỹ và Pháp cũng là hai cường quốc có tiếng nói. Đó cũng là chân lý đúng đắn về quyền con người, không ai có thể bác bỏ.
  • Dùng phương pháp “gậy ông đập lưng ông” để đánh vào bộ mặt thực dân Pháp và ngăn chặn việc bọn thực dân, đế quốc tái xâm lược nước ta.
  • Đặt ngang hàng cuộc cách mạng, giá trị bản tuyên ngôn của nước ta với hai cường quốc Mỹ và Pháp, thể hiện lòng tự tôn dân tộc.
  • Dùng phương pháp suy luận trực tiếp: “Suy rộng ra” từ quyền tự do của mỗi con người đến quyền tự do, độc lập của mỗi dân tộc. “Đó là những chân lý không thể chối cãi được”.

- Nhận xét: cách lập luận khéo léo, sáng tạo, rõ ràng, chặt chẽ đầy tính thuyết phục.

3. Lập luận chứng minh cho cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn

- Hồ Chí Minh lập luận bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân Pháp về công cuộc “khai hóa” và “bảo hộ” của chúng bằng cách nêu những dẫn chứng cụ thể:

  • Thi hành nhiều chính sách dã man về chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục và kinh tế.
  • Hai lần bán nước ta cho Nhật (vào năm 1940, 1945), khiến cho “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”, “Không hợp tác với Việt Minh mà còn thẳng tay khủng bố Việt Minh…”.

- Hồ Chí Minh khẳng định giá trị các cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta:

  • Nhân dân ta đã chống ách nô lệ hơn 80 năm, đứng về phía Đồng minh chống phát xít, kêu gọi Pháp chống Nhật, lấy lại nước từ tay Nhật.
  • Kết quả: cùng lúc phá tan ba xiềng xích đang trói buộc dân tộc ta (Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị), thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

- Dùng từ ngữ có ý nghĩa phủ định để tuyên bố thoát ly hẳn với thực dân Pháp, xóa bỏ mọi hiệp ước đã ký kết, mọi đặc quyền của Pháp tại Việt Nam.

- Khẳng định quyền được tự do, độc lập của Việt Nam phù hợp với nguyên tắc dân tộc bình đẳng tại hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn và để kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận điều đó.

- Nhận xét: cách lập luận theo quan hệ nhân quả hợp lý và logic, dẫn chứng thuyết phục, lời văn giàu tính biểu cảm làm nổi bật cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn.

4. Lời tuyên bố độc lập

- Khẳng định việc giành được tự do độc lập của dân tộc ta là điều tất yếu: “dân tộc đó phải được độc lập, dân tộc đó phải được tự do”

- Tuyên bố với thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do... ”. Thể hiện quyết tâm đoàn kết giữ vững chủ quyền, nên độc lập, tự do của dân tộc.

- Nhận xét: Lời văn đanh thép, rõ ràng như một lời thề cũng như một lời khích lệ tinh thần yêu nước nhân dân cả nước.

III. Kết bài

- Khẳng định lại giá trị nghệ thuật: là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, gần gũi, giàu tính biểu cảm.

- Đánh giá chung về giá trị nội dung của bản tuyên ngôn độc lập: nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí chống quân xâm lược, lòng tự hào dân tộc; đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc ta, là bản án đanh thép chống lại mọi cường quyền.

09:42 - 02/11/2020

Mỹ Lộc
Cho em xin dàn bài so sánh TNĐL với Nam Quốc Sơn Hà ạ

08:28 - 01/11/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
Chào em,
em tham khảo dàn ý sau nha

Ra đời vào những thời điểm trọng đại của đất nước, của dân tộc, một số áng thơ văn đã được coi như những tuyên ngôn độc lập của dân tộc. Nó mang dấu ấn của một thời và giá trị của nó trường tồn cùng dân tộc.

Đề bài: So sánh 3 văn bản được coi là tuyên ngôn độc lập của Việt Nam.

1. Điểm giống nhau:

     - Khẳng định chủ quyền, quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam.

     - Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, đồng bào.

     - Tố cáo tội ác của giặc, vạch trần bộ mặt gian xảo của chúng đồng thời ca ngợi, tôn vinh con người Việt Nam.

2. Điểm khác nhau

a. Hoàn cảnh sáng tác, đối tượng:

     Ba bản tuyên ngôn ra đời trong ba hoàn cảnh khác nhau, hướng tới những đối tượng cụ thể khác nhau

     - Nam quốc sơn hà: Bắt đầu thời nhà Lý, dưới triều vua Lý Nhân Tông (1072-1127), tháng chạp năm BínhThìn (1076), sau khi hội quân với Chiêm Thành và Chân Lạp nhà Tống (Trung Quốc) đưa quân sang xâm chiếm nước ta vào đến sông Như Nguyệt (nay là sông Cầu thuộc làng Như Nguyệt, Bắc Ninh). Vua Lý Nhân Tông sai tướng Lý Thường Kiệt đem quân chặn đánh nhưng quân giặc dùng súng bắn đá gây tổn thất cho ta rất nhiều. Lý Thường Kiết hết sức điều động dân quân chống giữ không cho giặc sang sông, nhưng lại lo quân mình ngã lòng, bèn ngâm lớn bài thơ có bốn câu bằng chữ Hán nói là của thần linh mách bảo để động viên, cổ cũ quan quân dốc lòng đánh giặc: Đêm khuya, các chiến sĩ nghe đọc mấy câu thơ đó ai nấy đều phấn chấn nên ra sức đánh giặc rất hăng làm cho quân Tống phải rút lui. Các nhà nghiên cứu sử đều cho rằng bài thơ trên có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập vì đã rao truyền cho giặc biết sự độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước nhà mà không ai được xâm lấn. Nó còn nói lên khí phách, tư thế và quyết tâm của cả dân tộc lúc bấy giờ. 

     - Bản tuyên ngôn độc lập thứ hai là bài Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi soạn để bá cáo (công bố) cho thiên hạ biết sau khi Bình Định Vương Lê Lợi tổ chức thành công cuộc kháng chiến mười năm chống giặc ngoại xâm nhà Minh (1418-1427).

     - Bản Tuyên ngôn độc lập thứ ba do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và tuyên đọc ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình – thủ đô Hà Nội khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Văn kiện lịch sử này không phải chỉ được đọc trước quốc dân đồng bào mà còn trước thế giới, đặc biệt là trước bọn đế quốc thực dân đang chuẩn bị tái chiếm nước ta. Mặt khác, tại thời điểm này thực dân Pháp tuyên bố: Đông Dương là đất bảo hộcủa người Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải trở lại với người Pháp. Bản tuyên ngôn đã dứt khoát bác bỏ những luận điểm đó. Vì vậy đối tượng hướng tới của văn bản này, không chỉ là hai mươi triệu đồng bào Việt Nam để khẳng định quyền độc lập dân tộc, nhân dân tiến bộ thế giới để tranh thủ sự ủng hộ mà còn hướng đến bọn đế quốc: Anh, Pháp, Mỹ nhằm ngăn chặn mọi âm mưu xâm lược của chúng.

b. Cách khẳng định chủ quyền:

     - Nam quốc sơn hà: chủ quyền được khẳng định trên 2 phương diện: bờ cõi, vua được ghi trong sách trời – lực lượng siêu nhiên thần bí.

     - Bình Ngô đại cáo: chủ quyền được khẳng định trên nhiều phương diện hơn: tên nước, nền văn hiến, bờ cõi, phong tục, triều đại, anh hùng, hào kiệt – các phương diện sánh ngang với Trung Quốc.

     - Tuyên ngôn độc lập: Đưa ra lập luận để khẳng định chủ quyền trên 2 phương diện: VN có quyền được hưởng tự do độc lập. Sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Từ đó mới tuyên bố độc lập. Đây là cách lập luận khoa học, chặt chẽ, thuyết phục.

c. Lòng yêu nước, thương dân:

     - Nam quốc sơn hà: đề cập đến theo quan niệm Nho giáo, trung quân ái quốc. Yêu nước là yêu vua, yêu vua là yêu nước. Chủ quyền của nước chính là chủ quyền của vua.

     - Bình Ngô đại cáo: Quan niệm lấy dân làm gốc, yêu nước là yêu nhân dân: dân đen, con đỏ

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

     Nhân dân là tầng lớp đáng thương nhất trong chiến tranh. Họ là nhân dân Đại Việt.
     => Đây là quan niệm có tiến bộ nhưng chưa rộng mở.

     - Tuyên ngôn độc lập: Yêu nước là yêu nhân dân đất nước, là đem lại độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ …”. Tình yêu con người được đề cập đến rộng rãi hơn, con người trên toàn thế giới. Quan niệm tư tưởng tiến bộ của con người trong thời đại mới.

d. Cách mở đầu:

     - Nam quốc sơn hà, Lý Thường Kiệt vào đầu bằng một lời tuyên ngôn đanh thép: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (sông núi nước Nam vua Nam ở);

     - Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã khẳng định một chân lý lịch sử: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

     - Tuyên ngôn độc lập mở đầu bằng cách trích dẫn hai câu nói nổi tiếng trong hai bản tuyên ngôn của thế giới. Câu thứ nhất được trích từ Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Câu thứ hai được rút ra từ bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền Cách mạng Pháp năm 1791: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đây là một dụng ý chiến lược và chiến thuật của Bác. Người muốn dùng lời của ông cha người Pháp và người Mỹ để đập vào lưng của con cháu họ, dùng cây gậy độc lập tự do đánh vào lưng những kẻ thù của độc lập tự do. Nếu câu mở đầu của Nam quốc sơn hà là lời khẳng định chủ quyền dân tộc, mở đầu của Bình Ngô đại cáo là một triết lí nhân nghĩa gắn với an dân thì mở đầu của Tuyên ngôn độc lập là một lời tranh luận ngầm nhằm lột tẩy những mưu mô thủ đoạn của bọn thực dân. Cách trích dẫn ấy vừa tạo được cơ sở vững chắc cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, vừa sảng khoái niềm tự hào dân tộc.

      Trong phần mở đầu, ngoài việc trích dẫn lời lẽ của hai bản Tuyên ngôn độc lập trên, Bác còn thể hiện một tư duy đầy biến hóa và sáng tạo qua luận điểm suy rộng ra: Tất cả các dân tộc đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Ở đây, Bác đã nâng từ quyền con người lên thành quyền dân tộc, từ vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân lên thành quyền của mọi dân tộc bị áp bức trên thế giới. Một nhà văn hóa nước ngoài đã viết: Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh.

e. Cách tố cáo tội ác của giặc:

      - Nam quốc sơn hà: lời vạch trần tội ác của quân xâm lược, là lời dự báo cho số phận của bọn cướp nước tội xâm phạm đất nước khác (d/c). Cách nói hàm xúc, cô đọng.

      - Bình Ngô đại cáo: Ức Trai tiên sinh đã từng vạch tội giặc Minh mượn gió bẻ măng, lợi dung thời cơ phù Trần diệt Hồ để thôn tính nước ta: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà - Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa. Năm xưa, Nguyễn Trãi đã khái quát lại tội ác tày trời và chủ trương cai trị phản nhân đạo của giặc Ngô qua hai câu thơ: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. 

      - Tuyên ngôn độc lập: trong tác phẩm của mình, Bác đã dùng lập luận bác bỏ để vạch trần năm tội ác về chính trị, bốn tội ác về kinh tế của thực dân Pháp. Nếu nước mẹ Pháp đưa ra chiêu bài bảo hộ thì Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ: Trong năm năm, chúng bán nước ta cho Nhật… Ở Tuyên ngôn độc lập, với văn phong đĩnh đạc, giàu tính luận chiến, Bác đã viết: Chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Với cách lặp kết cấu cú pháp, điệp ngữ “chúng”, kết cấu song hành, tăng tiến, Tuyên ngôn độc lập là bản tuyên cáo chi tiết những hành động tham tàn bạo ngược của giặc Tây trên đất nước Việt Nam. Đặc biệt, ở Tuyên ngôn độc lập, với những dẫn chứng, số liệu cụ thể, bằng ngòi bút giàu sức chiến đấu, Nguyễn Ái Quốc còn vạch rõ thủ đoạn thâm độc của chính sách ngu dân, cai trị dân tộc Việt Nam bằng rượu và thuốc phiện, lập nhà tù nhiều hơn trường học. Nước Pháp ở thời điểm này đang rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế; thay vì đổ xuống biển hàng tấn rượu thì bọn thực dân đã mở rộng khai thác thuộc địa sang các nước Đông Dương và biến các nước này trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chúng. Vì vậy chúng cấm người dân Việt Nam không được nấu rượu bằng các sản vật địa phương như gạo, mía, sắn mà phải dùng rượu Pháp. Trở lại những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi, ta mới thấy hết được không khí ngột ngạt, đau khổ của thôn xóm Việt Nam. Khắp nơi , bọn tay sai phong kiến và thực dân Pháp truy tìm, bắt bớ bỏ tù hàng ngàn người dân vì tội nấu “rượu lậu”. Bên cạnh đó, bọn chúng cho phép các tiệm hút được mở công khai ở Hà Nội, Hải Phòng nhằm làm suy nhược sức khỏe và băng hoại ý chí đấu tranh của tầng lớp thanh niên ta. Lên án âm mưu thâm độc này, trong Tuyên ngôn độc lập, Bác viết: Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

g. Tính chất chính nghĩa, thái độ khoan hồng và nhân đạo:

      - Nam quốc sơn hà: sách trời đã định, không thể thay đổi.

      - Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân mà thay cường bạo. Tư tưởng nhân nghĩa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong Bình Ngô đại cáo và cuộc đấu tranh chống quân Minh của quân dân Đại Việt. Sau khi giặc đầu hàng, lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn đã có những hành động hết sức cao thượng: Mã Kì, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể mà hồn bay phách lạc – Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà tim đập chân run. Sự thảm hại của kẻ thù vừa làm tôn lên khí thế hào hùng của nghĩa quân đồng thời càng làm nổi bật tính chất chính nghĩa, nhân đạo sáng ngời của cuộc kháng chiến chống quân Ngô thuở nào.

      - Trong Tuyên ngôn độc lập, Bác đã ngợi ca thái độ khoan hồng và nhân đạo của người dân đất Việt: Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng, tài sản cho họ. Tinh thần nhân nghĩa đó vốn xuất hiện từ lâu trong đạo lý dân tộc: Đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại. Trong truyện cổ dân gian, khi nghe Thạch Sanh đàn, quân giặc rụng rời chân tay và xin hàng. Trước khi chúng về nước, Thạch Sanh không chỉ tha bổng mà còn cấp cho chúng niêu cơm “ăn mãi không hết”...

h. Tuyên bố độc lập:

      - Lời kết thúc Bình Ngô đại cáo với sự hòa quyện giữa cảm hứng độc lập và cảm hứng vũ trụ, Ức Trai tiên sinh trịnh trọng tuyên bố nền độc lập tự do: Xã tắc từ nay vững bền – Giang san từ đây đổi mới – Càn khôn bỉ mà lại thái – Nhật nguyệt hối mà lại minh – Muôn thuở nền thái bình vững chắc – Ngàn năm, vết nhục nhã sạch làu.

      - Ở Tuyên ngôn độc lập, trước khi công bố quyền được hưởng tự do độc lập một cách xứng đáng của dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã tuyên bố thoát lí mọi quan hệ với thực dân, xóa bỏ mọi hiệp ước, mọi quyền lợi của Pháp trên đất nước Việt Nam. Đây là một việc làm vô cùng có ý nghĩa. Để thiết lập một đất nước Việt Nam mới và mở ra một kỉ nguyên độc lập tự do của đất nước, ta phải xóa bỏ mọi ràng buộc, mọi mối quan hệ với thực dân Pháp, phải đập tan mọi luận điệu của Đờ Gôn (tướng Pháp) và bọn thực dân phản động Pháp đang âm mưu tái chiếm Đông Dương: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Đoạn văn gồm ba ý, xây dựng theo lối tăng cấp: quyền hưởng tự do độc lập của dân tộc, hưởng tự do độc lập là sự thực, quyết tâm giữ vững độc lập tự do bằng mọi giá của con người Việt Nam. Đây là lời tuyên bố hào hùng, là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu dân (Trần Dân Tiên). 

i. Về nghệ thuật.

      - Về tổng thể, Tuyên ngôn độc lập có điểm tương đồng giữa các phần như Bình Ngô đại cáo song bố cục ngắn gọn và chặt chẽ hơn. Nếu hai tác phẩm trên sáng tác theo các thể thơ văn cổ Trung đại thì Tuyên ngôn độc lập viết theo phong cách văn chính luận hiện đại với lập luận sắc sảo, bằng chứng rõ ràng, hình ảnh gợi cảm, ngôn từ chính xác, kết hợp sâu sắc giữa văn học và chính trị, kế thừa và phát triển.

      - Ngôn từ, hành văn, cách diễn dạt của TNĐL ngắn gọn, dễ hiểu, lập luận khoa học, sắc sảo. NQSH ngắn gọn, xúc tích chưa thật đầy đủ. BNĐC dài hơn.

      - Thể loại chữ viết hai bài trên: TNĐL là chữ quốc ngữ thể văn chính luận, BNĐC chữ Hán thể phú, NQSH là chữ Hán thể thơ tứ tuyệt Đường luật.

3. Lí giải: Tại sao giữa TNĐL và BNĐC lại có sự khác nhau và giống nhau về nội dung và tư tưởng.

      - Giống: là bởi vì cả hai tác giả đều là những danh nhân lớn của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa dân tộc từ bao đời, có lòng yêu nước, yêu nhân dân.

      - Khác: là bởi vì hoàn cảnh sống giữa hai tác giả khác nhau, vốn sống, vốn hiểu biết và tài năng nghệ thuật cũng khác nhau, đặc biệt là ngoài tinh hoa của dân tộc, Hồ Chủ Tịch còn tiếp thu cả tinh hoa văn hoá thế giới một cách có chọn lọc.

4. Đánh giá:

      Cả 3 đều khẳng định chủ quyền đất nước, là kim nam châm chỉ phương cho nhân dân ta dựng và giữ nước.

09:41 - 02/11/2020

Thiên Hiện Bảo Bảo
cho e hỏi với bài tây tiến có thể ra những dạng đề nghị luận nào ạ

21:12 - 23/10/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, với bài Tây Tiến, đề bài có thể yêu cầu các em phân tích từng đoạn trong bài thơ (đoạn 1, 2, 3) hoặc phân tích hình tượng thiên nhiên hay hình tượng người lính Tây Tiến; bên cạnh đó còn có dạng đề phân tích cảm hứng lãng mạn, tinh thần bi tráng trong bài thơ em nha. 

07:12 - 24/10/2020

Thiên Hiện Bảo Bảo
cho e hỏi với bài tây tiến có thể ra những dạng đề nghị luận nào ạ

21:12 - 23/10/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, với bài Tây Tiến, đề bài có thể yêu cầu các em phân tích từng đoạn trong bài thơ (đoạn 1, 2, 3) hoặc phân tích hình tượng thiên nhiên hay hình tượng người lính Tây Tiến; bên cạnh đó còn có dạng đề phân tích cảm hứng lãng mạn, tinh thần bi tráng trong bài thơ em nha. 

07:13 - 24/10/2020

Thiên Hiện Bảo Bảo
cho e hỏi với bài tuyên ngôn độc lập có thể ra những dạng đề nghị luận nào ạ

21:11 - 23/10/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, với bài Tuyên ngôn độc lập, đề có thể yêu cầu các em:

- Phân tích nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh

- Chứng minh Tuyên ngôn độc lập vừa là một văn kiện lịch sử vừa là một tác phẩm văn học

- So sánh Tuyên ngôn độc lập với Bình Ngô Đại cáo và Nam quốc sơn hà

07:09 - 24/10/2020

Thiên Hiện Bảo Bảo
cho e hỏi với bài tuyên ngôn độc lập có thể ra những dạng đề nghị luận nào ạ

21:11 - 23/10/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, với bài Tuyên ngôn độc lập, đề có thể yêu cầu các em:

- Phân tích nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh

- Chứng minh Tuyên ngôn độc lập vừa là một văn kiện lịch sử vừa là một tác phẩm văn học

- So sánh Tuyên ngôn độc lập với Bình Ngô Đại cáo và Nam quốc sơn hà

07:10 - 24/10/2020

Thiên Hiện Bảo Bảo
cho e hỏi với bài tuyên ngôn độc lập có thể ra những dạng đề nghị luận nào ạ

21:11 - 23/10/2020

Chuyên gia - Phạm Tuân

Chào em, với bài Tuyên ngôn độc lập, đề có thể yêu cầu các em:

- Phân tích nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh

- Chứng minh Tuyên ngôn độc lập vừa là một văn kiện lịch sử vừa là một tác phẩm văn học

- So sánh Tuyên ngôn độc lập với Bình Ngô Đại cáo và Nam quốc sơn hà

07:11 - 24/10/2020

lethingoan2003
Cô ơi cho em xin cái kết bài hay hay cho đề phân tích nội dung và xác định giá trị của bản tndl đc ko ạ.

23:35 - 19/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
Chào em
Em tự viết rồi gửi cô sửa lại câu từ cho mượt mà nha, chứ cô không viết dùm em được

08:23 - 20/10/2020

lethingoan2003
Cô ơi cô cho em xin tips kết bài với ạ.Tại vì phần kết bài của em khá lan man em không biết nêu những ý nào cho phù hợp í ạ

10:24 - 20/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
chào em, em tham khảo nha

KB:

- Nêu khái quát về giá trị nghệ thuật: là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, gần gũi, giàu tính biểu cảm.

- Đánh giá chung về giá trị nội dung (giá trị văn học, giá trị lịch sử) của bản tuyên ngôn độc lập: nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí chống quân xâm lược, lòng tự hào dân tộc; đánh dấu mốc son trong lịch sử dân tộc ta.

10:43 - 20/10/2020

lethingoan2003
Dạ vâng ạ em cảm ơn cô❤

21:02 - 20/10/2020

Mod Ngữ Văn - Nguyễn Trần Thành Đạt
@lethingoan2003:Chào bạn, không có gì nha bạn. Chúc bạn luôn học tốt nhe!

08:03 - 25/10/2020

Phùng Vũ Huy Lâm
kỳ thực thì em dành thời gian cho toán và anh nhiều hơn văn nên em cần pp nhớ nắm kỹ tác phẩm và làm đề mượt không hụt ý, mỗi lần gặp bài vận dụng cao toàn bị nghẹn từ nghẹn ý ạ.

23:38 - 30/09/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
nhớ bài là một chuyện, còn triển khai bài giảng thành bài văn sao cho mượt mà lại là chuyện khác, điều này đòi hỏi năng khiếu về sử dụng ngôn từ và khả năng diễn đạt của em nữa đó.
Em có thể cải thiện bằng cách đọc nhiều bài văn mẫu, nhiều sách tham khảo rồi học theo cách diễn đạt quy chuẩn sao cho mượt mà, nhưng vẫn phải sáng tạo phong cách riêng cho mình em nha.
Em chăm chỉ học theo các video trên này và làm bài tập online cô sẽ chấm cho em nhé

08:08 - 01/10/2020

Phùng Vũ Huy Lâm
cho em xin cách học thuộc nội dung hiểu quả ạ, cách học văn và bài giảng file online offline như thế nào cho tốt ạ

23:37 - 30/09/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
Chào em.
Em có thể tham khảo cách của cô nhé
Đầu tiên em nên đọc một lượt nội dung của bài để nắm được tinh thần chung, ý chính
Sau đó em hệ thống các ý lại bằng sơ đồ tư duy, ý lớn là nhành cây lớn, các ý nhỏ sẽ là các nhành nhỏ và các từ ngữ lưu ý là lá cây còn kết luận sẽ kết tinh thành trái cây
Sau đó em tô màu cho sơ đồ nổi bật vì màu sắc nổi bật sẽ kích thích tư duy và khả năng ghi nhờ của em đó
Cuối cùng em nhìn qua vài lần là sẽ nhớ hết thôi.
Chúc em học tốt <3

08:05 - 01/10/2020

Phùng Vũ Huy Lâm
@GVHT Văn - Phạm Lệ: em có nên chép lại fle bài giảng không ạ

21:50 - 05/10/2020

GVHT Văn - Phạm Lệ
Nên nha em, file bài giảng là nội dung cốt lõi đó, em chép lại hoặc có thể viết thêm những ý cô giáo giảng mà em thấy hay nhưng không có trong file nhé

08:19 - 06/10/2020

Phùng Vũ Huy Lâm
ủa bài học được cập nhật lại ạ, sao khác với phần trước em học vậy ??lần trước chia làm 2 phần là cơ sở pháp lí và cơ sở thực tiễn ra 2 bài mà mod

06:58 - 27/09/2020

GVHT Văn - Nguyễn Quyên
Bài này gv quay mới em nhes

07:49 - 27/09/2020

Danh sách bài giảng cùng chuyên đề

Đăng Nhập

  • Lưu ý: Tên tài khoản hay tên đăng nhập là một

  • | Quên mật khẩu ?
  • Lưu ý: - Nếu bạn không thể đăng nhập thông tin qua tài khoản Facebook hoặc Google hãy liên hệ Hotline 024.7300.7989 để giúp bạn chuyển sang tài khoản trên trang.

  • Chưa có tài khoản Tuyensinh247.com? Đăng ký ngay !

Lý do báo cáo vi phạm?



Gửi yêu cầu Hủy