Tel: 024.7300.7989 - Phone: 1800.6947 (Thời gian hỗ trợ từ 7h đến 22h)

Giỏ hàng của tôi

For questions 58-64, choose which of the paragraphs A-H fit into the gaps into the following extract from a book. There

For questions 58-64, choose which of the paragraphs A-H fit into the gaps into the following extract from a book. There is one extra paragraph which you do not need to use.

TIMING A TALK

When people groan that they have been to a dreadful talk, the most common reason they give for their misery is 'he went on and on and on'. A poorly presented subject can be suffered, for the sake of the topic itself, if it keeps to time. But a talk which is both boring and drones on for endless minutes after the clock shows that the finishing time is passed, is a torture. Even an interesting, well presented talk which goes on for too long is remembered with little pleasure. The timing of a talk is, then, extremely important.

58. __________

Why does it matter so much? It is a question which I have thought about a great deal. It is quite obvious that speakers don't think it matters greatly. It is equally obvious, both from listening to others, and from observing one's own reactions when trapped in the audience for a talk which goes on far too long, that to the audience timing is vital.

59. __________

The first is the different adrenalin levels in speakers and listeners. Put quite simply, they perceive time differently. The excitement and fear produced by speaking causes adrenalin to flush into the veins in large quantities. The result is that speakers have a stamina, a resistance to tiring, an endurance, which is superhuman. They can go on all day.

60. __________

Speakers, then, are in an abnormal state. They are indifferent to time and tiredness and while they are speaking they feel as if they could go on all day. But the audience is in quite the opposite state. Sitting down and having nothing to do but listen actually reduces adrenalin below its normal level.

61. _________

The second reason is that audience and speaker probably have different emotional concerns about the subject. The speaker has been working on the topic for some time, preparing the talk. It is quite common for the effort of preparing a talk about a subject to produce a quite profound interest in the topic.

62. __________

The audience, as usual, feels quite differently. Their interest in the subject of the talk is unlikely to be so great. They may have no more than a polite interest in it. They may have no interest at all in it and may have come to listen in the hope that the speaker will arouse an interest.

63. __________

The third reason for the different attitudes between speaker and audience is contractual. The timing of your talk is in effect a contract with the audience. You were invited to talk for a specific time and you have agreed to talk for this time. The power of this contract is extraordinary. If you have been invited to give a ten-minute presentation, the audience will become disastrously restless after thirty minutes. They will feel that the talk was disgraceful and that the speaker is guilty of some great social crime.

64. __________

Of these two mistakes there is no doubt that to over-run the agreed time is more disastrous than to under-run it. The explanation seems to be that the audience is quietly looking forward to the end of the talk. If that time comes and passes and the speaker is still industriously talking away, the listeners have lost their security.

A. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

B. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

C. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

D. However, this kind of behavior occurs because the average person's span of attention is limited. The simple fact is that about five to ten minutes is as long as most people can listen without a short day-dream. After a brief holiday to catch up with all the other thoughts floating round their head, people come back to a talk.

E. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

F. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

G. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

H. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

Trả lời cho các câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 dưới đây:

Câu hỏi số 1:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: F

Câu hỏi:863413
Phương pháp giải

- Đọc kỹ đoạn văn chứa chỗ trống để hiểu ngữ cảnh và mạch logic của bài.

- Phân tích ý chính của các đoạn từ A-H, lần lượt thử điền vào chỗ trống để chọn ra đoạn văn giúp kết nối nội

Even an interesting, well presented talk which goes on for too long is remembered with little pleasure. The timing of a talk is, then, extremely important. __58__ Why does it matter so much?

(Vì vậy, thời lượng của một bài thuyết trình là vô cùng quan trọng. __58__. Vậy tại sao thời lượng lại quan trọng đến như thế?)

Nghĩa của các lựa chọn A – H:

A. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

(Khán giả ở trong trạng thái thụ động về mặt thể chất; thậm chí hoạt động tinh thần như nói chuyện với người khác cũng bị ngừng lại. Vì vậy, khán giả ở vị trí hoàn toàn đối lập với người nói. Điều này phần nào giải thích vì sao họ có những cảm nhận rất khác nhau về sự trôi qua của thời gian.)

B. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

(Ngược lại, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị hụt hẫng. Nội dung bạn nói có thể không khác, cách tổ chức và hiệu quả của bài nói cũng không thay đổi, nhưng cam kết về thời lượng mà bạn đã đưa ra thì không được thực hiện.)

C. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

(Tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã phát triển ba cách giải thích cho hiện tượng đó và có thể tóm tắt ngắn gọn. Sau đây tôi sẽ trình bày chúng.)

D. However, this kind of behavior occurs because the average person's span of attention is limited. The simple fact is that about five to ten minutes is as long as most people can listen without a short day-dream. After a brief holiday to catch up with all the other thoughts floating round their head, people come back to a talk.

(Tuy nhiên, kiểu hành vi này xảy ra vì khả năng tập trung của người bình thường là có giới hạn. Thực tế đơn giản là khoảng năm đến mười phút là thời gian tối đa mà đa số mọi người có thể lắng nghe mà không mơ màng. Sau một “kỳ nghỉ ngắn” để theo kịp những suy nghĩ khác đang trôi nổi trong đầu, họ lại quay trở lại với bài nói.)

E. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

(Tệ nhất là, họ có thể có mặt chỉ vì buộc phải có mặt, vì muốn được nhìn thấy ở đó, hoặc vì ai đó khác (như sếp) yêu cầu họ phải tham dự. Ngay cả khi họ có hứng thú, cảm xúc của họ cũng khó có thể mãnh liệt như người nói. Họ có thể thích nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ giải lao hoặc đơn giản là vươn vai thư giãn. Chắc chắn họ không có được sự nhiệt tình quá mức mà người nói thường cảm nhận.)

F. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

(Không có yếu tố nào khác của bài thuyết trình có thể gây tổn hại lớn đến cách khán giả đánh giá bài nói như yếu tố thời gian. Cũng không có yếu tố nào dễ kiểm soát hơn, vì nó chỉ đơn giản là việc nhìn vào đồng hồ. Nhưng đồng thời, cũng không có yếu tố nào dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người tỏ ra quá thờ ơ với việc kiểm soát thời lượng bài nói, và điều này có thể gây hậu quả nghiêm trọng.)

G. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

(Tôi đã chứng kiến sự quan tâm mới mẻ này phát triển ở những người nói mới vào nghề — những người ban đầu gặp khó khăn trong việc chọn chủ đề cho bài thuyết trình thử, nhưng sau đó lại đột nhiên trở nên vô cùng say mê với chủ đề họ chọn và bắt đầu kéo mọi người lại trong giờ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói thường trở nên gắn bó sâu sắc với nội dung mình trình bày.)

H. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

(Chính hiệu ứng này cũng tạo ra cảm giác lạ lùng giữa hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thuyết trình. Thông thường, bạn cảm thấy căng tràn năng lượng và sẵn sàng trước khi bắt đầu, và hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng lên trong lúc nói. Phản ứng của cơ thể bị kích thích ở mức cao bất thường. Bạn đã “vay trước” một lượng năng lượng thể chất. Sau bài nói, khoản vay đó phải được trả lại, và bạn đột nhiên cảm thấy kiệt sức.)

Giải chi tiết

Dựa vào vế trước đang khẳng định thời gian cực kỳ quan trọng “The timing of a talk is, then, extremely important” (Do đó, thời điểm thuyết trình vô cùng quan trọng.); sau đó đoạn sau mở đầu bằng câu hỏi “Why does it matter?” (Tại sao điều đó lại quan trọng?) => chỗ trống cần một nội dung làm cầu nối, nhấn mạnh mức độ ảnh hưởng của thời gian đối với bài thuyết trình.

Đoạn hoàn chỉnh: The timing of a talk is, then, extremely important. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal. Why does it matter so much?

(Vì vậy, thời lượng của một bài thuyết trình là vô cùng quan trọng. Không có yếu tố nào khác của bài thuyết trình có thể gây tổn hại lớn đến cách khán giả đánh giá bài nói như yếu tố thời gian. Cũng không có yếu tố nào dễ kiểm soát hơn, bởi đó chỉ đơn giản là việc mang tính cơ học: nhìn vào mặt đồng hồ. Tuy nhiên, cũng không có yếu tố nào dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người dường như có thái độ quá tùy tiện đối với việc kiểm soát thời lượng của bài nói, và điều này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Vậy tại sao thời lượng lại quan trọng đến như thế?)

Đáp án cần điền là: F

Câu hỏi số 2:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: C

Câu hỏi:863414
Phương pháp giải

- Đọc kỹ đoạn văn chứa chỗ trống để hiểu ngữ cảnh và mạch logic của bài.

- Phân tích ý chính của các đoạn từ A-H, lần lượt thử điền vào chỗ trống để chọn ra đoạn văn giúp kết nối nội dung một cách liền mạch và tạo thành đoạn văn có nghĩa hoàn chỉnh.

Why does it matter so much? It is a question which I have thought about a great deal. It is quite obvious that speakers don't think it matters greatly. It is equally obvious, both from listening to others, and from observing one's own reactions when trapped in the audience for a talk which goes on far too long, that to the audience timing is vital. __59__ The first is the different adrenalin levels in speakers and listeners.

(Điều này cũng hiển nhiên không kém, cả từ việc lắng nghe người khác lẫn từ việc quan sát phản ứng của chính mình khi bị “mắc kẹt” trong hàng ghế khán giả của một bài nói kéo dài quá lâu, rằng đối với khán giả, yếu tố thời gian là vô cùng quan trọng. __59__. Lý do thứ nhất là sự khác biệt về mức độ adrenaline giữa người nói và người nghe.)

Nghĩa của các lựa chọn A – H:

A. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

(Khán giả ở trong trạng thái thụ động về mặt thể chất; thậm chí hoạt động tinh thần như nói chuyện với người khác cũng bị ngừng lại. Vì vậy, khán giả ở vị trí hoàn toàn đối lập với người nói. Điều này phần nào giải thích vì sao họ có những cảm nhận rất khác nhau về sự trôi qua của thời gian.)

B. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

(Ngược lại, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị hụt hẫng. Nội dung bạn nói có thể không khác, cách tổ chức và hiệu quả của bài nói cũng không thay đổi, nhưng cam kết về thời lượng mà bạn đã đưa ra thì không được thực hiện.)

C. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

(Tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã phát triển ba cách giải thích cho hiện tượng đó và có thể tóm tắt ngắn gọn. Sau đây tôi sẽ trình bày chúng.)

D. However, this kind of behavior occurs because the average person's span of attention is limited. The simple fact is that about five to ten minutes is as long as most people can listen without a short day-dream. After a brief holiday to catch up with all the other thoughts floating round their head, people come back to a talk.

(Tuy nhiên, kiểu hành vi này xảy ra vì khả năng tập trung của người bình thường là có giới hạn. Thực tế đơn giản là khoảng năm đến mười phút là thời gian tối đa mà đa số mọi người có thể lắng nghe mà không mơ màng. Sau một “kỳ nghỉ ngắn” để theo kịp những suy nghĩ khác đang trôi nổi trong đầu, họ lại quay trở lại với bài nói.)

E. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

(Tệ nhất là, họ có thể có mặt chỉ vì buộc phải có mặt, vì muốn được nhìn thấy ở đó, hoặc vì ai đó khác (như sếp) yêu cầu họ phải tham dự. Ngay cả khi họ có hứng thú, cảm xúc của họ cũng khó có thể mãnh liệt như người nói. Họ có thể thích nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ giải lao hoặc đơn giản là vươn vai thư giãn. Chắc chắn họ không có được sự nhiệt tình quá mức mà người nói thường cảm nhận.)

F. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

(Không có yếu tố nào khác của bài thuyết trình có thể gây tổn hại lớn đến cách khán giả đánh giá bài nói như yếu tố thời gian. Cũng không có yếu tố nào dễ kiểm soát hơn, vì nó chỉ đơn giản là việc nhìn vào đồng hồ. Nhưng đồng thời, cũng không có yếu tố nào dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người tỏ ra quá thờ ơ với việc kiểm soát thời lượng bài nói, và điều này có thể gây hậu quả nghiêm trọng.)

G. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

(Tôi đã chứng kiến sự quan tâm mới mẻ này phát triển ở những người nói mới vào nghề — những người ban đầu gặp khó khăn trong việc chọn chủ đề cho bài thuyết trình thử, nhưng sau đó lại đột nhiên trở nên vô cùng say mê với chủ đề họ chọn và bắt đầu kéo mọi người lại trong giờ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói thường trở nên gắn bó sâu sắc với nội dung mình trình bày.)

H. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

(Chính hiệu ứng này cũng tạo ra cảm giác lạ lùng giữa hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thuyết trình. Thông thường, bạn cảm thấy căng tràn năng lượng và sẵn sàng trước khi bắt đầu, và hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng lên trong lúc nói. Phản ứng của cơ thể bị kích thích ở mức cao bất thường. Bạn đã “vay trước” một lượng năng lượng thể chất. Sau bài nói, khoản vay đó phải được trả lại, và bạn đột nhiên cảm thấy kiệt sức.)

Giải chi tiết

Đoạn trước kết thúc bằng khẳng định đối với khán giả “timing is vital” (thời gian thì quan trọng); đoạn sau vị trí trống là nêu là lý do thứ nhất “The first is...” (Điều đầu tiên là...) => chỗ trống cần một đoạn văn đặt vấn đề để dẫn dắt vào các lý do cụ thể

Đoạn hoàn chỉnh: It is equally obvious, both from listening to others, and from observing one's own reactions when trapped in the audience for a talk which goes on far too long, that to the audience timing is vital. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them. The first is the different adrenalin levels in speakers and listeners.

(Điều này cũng hiển nhiên không kém, cả từ việc lắng nghe người khác lẫn từ việc quan sát phản ứng của chính mình khi bị “mắc kẹt” trong hàng ghế khán giả của một bài nói kéo dài quá lâu, rằng đối với khán giả, yếu tố thời gian là vô cùng quan trọng. Vậy tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã phát triển ba cách giải thích cho hiện tượng đó và có thể tóm tắt ngắn gọn. Sau đây tôi sẽ lần lượt trình bày. Lý do thứ nhất là sự khác biệt về mức độ adrenaline giữa người nói và người nghe.)

Đáp án cần điền là: C

Câu hỏi số 3:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: H

Câu hỏi:863415
Phương pháp giải

- Đọc kỹ đoạn văn chứa chỗ trống để hiểu ngữ cảnh và mạch logic của bài.

- Phân tích ý chính của các đoạn từ A-H, lần lượt thử điền vào chỗ trống để chọn ra đoạn văn giúp kết nối nội dung một cách liền mạch và tạo thành đoạn văn có nghĩa hoàn chỉnh.

The result is that speakers have a stamina, a resistance to tiring, an endurance, which is superhuman. They can go on all day. __60__. Speakers, then, are in an abnormal state.

(Kết quả là người nói có một sức bền, một khả năng chống lại sự mệt mỏi, một độ dẻo dai gần như vượt quá mức bình thường của con người. Họ có thể nói suốt cả ngày. __60__. Vì vậy, người nói đang ở trong một trạng thái bất thường.)

Nghĩa của các lựa chọn A – H:

A. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

(Khán giả ở trong trạng thái thụ động về mặt thể chất; thậm chí hoạt động tinh thần như nói chuyện với người khác cũng bị ngừng lại. Vì vậy, khán giả ở vị trí hoàn toàn đối lập với người nói. Điều này phần nào giải thích vì sao họ có những cảm nhận rất khác nhau về sự trôi qua của thời gian.)

B. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

(Ngược lại, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị hụt hẫng. Nội dung bạn nói có thể không khác, cách tổ chức và hiệu quả của bài nói cũng không thay đổi, nhưng cam kết về thời lượng mà bạn đã đưa ra thì không được thực hiện.)

C. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

(Tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã phát triển ba cách giải thích cho hiện tượng đó và có thể tóm tắt ngắn gọn. Sau đây tôi sẽ trình bày chúng.)

D. However, this kind of behavior occurs because the average person's span of attention is limited. The simple fact is that about five to ten minutes is as long as most people can listen without a short day-dream. After a brief holiday to catch up with all the other thoughts floating round their head, people come back to a talk.

(Tuy nhiên, kiểu hành vi này xảy ra vì khả năng tập trung của người bình thường là có giới hạn. Thực tế đơn giản là khoảng năm đến mười phút là thời gian tối đa mà đa số mọi người có thể lắng nghe mà không mơ màng. Sau một “kỳ nghỉ ngắn” để theo kịp những suy nghĩ khác đang trôi nổi trong đầu, họ lại quay trở lại với bài nói.)

E. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

(Tệ nhất là, họ có thể có mặt chỉ vì buộc phải có mặt, vì muốn được nhìn thấy ở đó, hoặc vì ai đó khác (như sếp) yêu cầu họ phải tham dự. Ngay cả khi họ có hứng thú, cảm xúc của họ cũng khó có thể mãnh liệt như người nói. Họ có thể thích nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ giải lao hoặc đơn giản là vươn vai thư giãn. Chắc chắn họ không có được sự nhiệt tình quá mức mà người nói thường cảm nhận.)

F. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

(Không có yếu tố nào khác của bài thuyết trình có thể gây tổn hại lớn đến cách khán giả đánh giá bài nói như yếu tố thời gian. Cũng không có yếu tố nào dễ kiểm soát hơn, vì nó chỉ đơn giản là việc nhìn vào đồng hồ. Nhưng đồng thời, cũng không có yếu tố nào dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người tỏ ra quá thờ ơ với việc kiểm soát thời lượng bài nói, và điều này có thể gây hậu quả nghiêm trọng.)

G. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

(Tôi đã chứng kiến sự quan tâm mới mẻ này phát triển ở những người nói mới vào nghề — những người ban đầu gặp khó khăn trong việc chọn chủ đề cho bài thuyết trình thử, nhưng sau đó lại đột nhiên trở nên vô cùng say mê với chủ đề họ chọn và bắt đầu kéo mọi người lại trong giờ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói thường trở nên gắn bó sâu sắc với nội dung mình trình bày.)

H. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

(Chính hiệu ứng này cũng tạo ra cảm giác lạ lùng giữa hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thuyết trình. Thông thường, bạn cảm thấy căng tràn năng lượng và sẵn sàng trước khi bắt đầu, và hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng lên trong lúc nói. Phản ứng của cơ thể bị kích thích ở mức cao bất thường. Bạn đã “vay trước” một lượng năng lượng thể chất. Sau bài nói, khoản vay đó phải được trả lại, và bạn đột nhiên cảm thấy kiệt sức.)

Giải chi tiết

Đoạn trước mô tả các lợi ích của adrenalin “speakers have a stamina, a resistance to tiring, an endurance, which is superhuman. They can go on all day”; đoạn sau chốt lại trạng thái của người nói là “abnormal state” (trạng thái bất thường) => chỗ trống cần một đoạn văn giải thích về cơ chế của sự hưng phấn này và cách cơ thể vận hành dưới tác động của adrenalin.

Câu hoàn chỉnh: The result is that speakers have a stamina, a resistance to tiring, an endurance, which is superhuman. They can go on all day. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out. Speakers, then, are in an abnormal state.

(Kết quả là người nói có một sức bền, một khả năng chống lại sự mệt mỏi, một độ dẻo dai gần như vượt quá mức bình thường của con người. Họ có thể nói suốt cả ngày. Chính hiệu ứng này cũng tạo ra trạng thái kỳ lạ xen lẫn giữa hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thuyết trình. Thông thường, trước khi bắt đầu bài nói, bạn cảm thấy tràn đầy năng lượng và sẵn sàng, và trong suốt quá trình nói, bạn hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng dần. Phản ứng của cơ thể bị đẩy lên mức cao một cách không tự nhiên. Bạn đang “rút trước” một khoản năng lượng thể chất. Sau bài nói, khoản năng lượng vay mượn đó phải được hoàn trả, và bạn đột ngột cảm thấy kiệt sức. Vì vậy, người nói đang ở trong một trạng thái bất thường.)

Đáp án cần điền là: H

Câu hỏi số 4:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: A

Câu hỏi:863416
Phương pháp giải

- Đọc kỹ đoạn văn chứa chỗ trống để hiểu ngữ cảnh và mạch logic của bài.

- Phân tích ý chính của các đoạn từ A-H, lần lượt thử điền vào chỗ trống để chọn ra đoạn văn giúp kết nối nội dung một cách liền mạch và tạo thành đoạn văn có nghĩa hoàn chỉnh.

Sitting down and having nothing to do but listen actually reduces adrenalin below its normal level. __61__.

(Việc ngồi yên và không có gì để làm ngoài lắng nghe thực sự làm giảm mức adrenaline xuống dưới mức bình thường. __61__.)

Nghĩa của các lựa chọn A – H:

A. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

(Khán giả ở trong trạng thái thụ động về mặt thể chất; thậm chí hoạt động tinh thần như nói chuyện với người khác cũng bị ngừng lại. Vì vậy, khán giả ở vị trí hoàn toàn đối lập với người nói. Điều này phần nào giải thích vì sao họ có những cảm nhận rất khác nhau về sự trôi qua của thời gian.)

B. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

(Ngược lại, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị hụt hẫng. Nội dung bạn nói có thể không khác, cách tổ chức và hiệu quả của bài nói cũng không thay đổi, nhưng cam kết về thời lượng mà bạn đã đưa ra thì không được thực hiện.)

C. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

(Tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã phát triển ba cách giải thích cho hiện tượng đó và có thể tóm tắt ngắn gọn. Sau đây tôi sẽ trình bày chúng.)

D. However, this kind of behavior occurs because the average person's span of attention is limited. The simple fact is that about five to ten minutes is as long as most people can listen without a short day-dream. After a brief holiday to catch up with all the other thoughts floating round their head, people come back to a talk.

(Tuy nhiên, kiểu hành vi này xảy ra vì khả năng tập trung của người bình thường là có giới hạn. Thực tế đơn giản là khoảng năm đến mười phút là thời gian tối đa mà đa số mọi người có thể lắng nghe mà không mơ màng. Sau một “kỳ nghỉ ngắn” để theo kịp những suy nghĩ khác đang trôi nổi trong đầu, họ lại quay trở lại với bài nói.)

E. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

(Tệ nhất là, họ có thể có mặt chỉ vì buộc phải có mặt, vì muốn được nhìn thấy ở đó, hoặc vì ai đó khác (như sếp) yêu cầu họ phải tham dự. Ngay cả khi họ có hứng thú, cảm xúc của họ cũng khó có thể mãnh liệt như người nói. Họ có thể thích nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ giải lao hoặc đơn giản là vươn vai thư giãn. Chắc chắn họ không có được sự nhiệt tình quá mức mà người nói thường cảm nhận.)

F. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

(Không có yếu tố nào khác của bài thuyết trình có thể gây tổn hại lớn đến cách khán giả đánh giá bài nói như yếu tố thời gian. Cũng không có yếu tố nào dễ kiểm soát hơn, vì nó chỉ đơn giản là việc nhìn vào đồng hồ. Nhưng đồng thời, cũng không có yếu tố nào dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người tỏ ra quá thờ ơ với việc kiểm soát thời lượng bài nói, và điều này có thể gây hậu quả nghiêm trọng.)

G. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

(Tôi đã chứng kiến sự quan tâm mới mẻ này phát triển ở những người nói mới vào nghề — những người ban đầu gặp khó khăn trong việc chọn chủ đề cho bài thuyết trình thử, nhưng sau đó lại đột nhiên trở nên vô cùng say mê với chủ đề họ chọn và bắt đầu kéo mọi người lại trong giờ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói thường trở nên gắn bó sâu sắc với nội dung mình trình bày.)

H. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

(Chính hiệu ứng này cũng tạo ra cảm giác lạ lùng giữa hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thuyết trình. Thông thường, bạn cảm thấy căng tràn năng lượng và sẵn sàng trước khi bắt đầu, và hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng lên trong lúc nói. Phản ứng của cơ thể bị kích thích ở mức cao bất thường. Bạn đã “vay trước” một lượng năng lượng thể chất. Sau bài nói, khoản vay đó phải được trả lại, và bạn đột nhiên cảm thấy kiệt sức.)

Giải chi tiết

Đoạn trước nêu thực tế là khi ngồi nghe, mức adrenalin của khán giả bị giảm thấp “Sitting down and having nothing to do but listen actually reduces adrenalin below its normal level.” => chỗ trống cần một đoạn thông tin bổ sung lý do cho tình trạng này

Câu hoàn chỉnh: Sitting down and having nothing to do but listen actually reduces adrenalin below its normal level. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

(Việc ngồi yên và không có gì để làm ngoài lắng nghe thực sự làm giảm mức adrenaline xuống dưới mức bình thường. Trạng thái này mang tính thụ động về mặt thể chất; ngay cả hoạt động tinh thần như trò chuyện với người khác cũng bị dừng lại. Vì vậy, khán giả ở vị trí hoàn toàn đối lập với người nói. Điều này phần nào giải thích vì sao họ có những cảm nhận rất khác nhau về sự trôi qua của thời gian.)

Đáp án cần điền là: A

Câu hỏi số 5:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: G

Câu hỏi:863417
Phương pháp giải

- Đọc kỹ đoạn văn chứa chỗ trống để hiểu ngữ cảnh và mạch logic của bài.

- Phân tích ý chính của các đoạn từ A-H, lần lượt thử điền vào chỗ trống để chọn ra đoạn văn giúp kết nối nội dung một cách liền mạch và tạo thành đoạn văn có nghĩa hoàn chỉnh.

It is quite common for the effort of preparing a talk about a subject to produce a quite profound interest in the topic. __62__.

(Việc chuẩn bị một bài thuyết trình về một chủ đề nào đó thường tạo ra sự quan tâm sâu sắc đối với chính chủ đề ấy. __61__.)

Nghĩa của các lựa chọn A – H:

A. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

(Khán giả ở trong trạng thái thụ động về mặt thể chất; thậm chí hoạt động tinh thần như nói chuyện với người khác cũng bị ngừng lại. Vì vậy, khán giả ở vị trí hoàn toàn đối lập với người nói. Điều này phần nào giải thích vì sao họ có những cảm nhận rất khác nhau về sự trôi qua của thời gian.)

B. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

(Ngược lại, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị hụt hẫng. Nội dung bạn nói có thể không khác, cách tổ chức và hiệu quả của bài nói cũng không thay đổi, nhưng cam kết về thời lượng mà bạn đã đưa ra thì không được thực hiện.)

C. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

(Tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã phát triển ba cách giải thích cho hiện tượng đó và có thể tóm tắt ngắn gọn. Sau đây tôi sẽ trình bày chúng.)

D. However, this kind of behavior occurs because the average person's span of attention is limited. The simple fact is that about five to ten minutes is as long as most people can listen without a short day-dream. After a brief holiday to catch up with all the other thoughts floating round their head, people come back to a talk.

(Tuy nhiên, kiểu hành vi này xảy ra vì khả năng tập trung của người bình thường là có giới hạn. Thực tế đơn giản là khoảng năm đến mười phút là thời gian tối đa mà đa số mọi người có thể lắng nghe mà không mơ màng. Sau một “kỳ nghỉ ngắn” để theo kịp những suy nghĩ khác đang trôi nổi trong đầu, họ lại quay trở lại với bài nói.)

E. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

(Tệ nhất là, họ có thể có mặt chỉ vì buộc phải có mặt, vì muốn được nhìn thấy ở đó, hoặc vì ai đó khác (như sếp) yêu cầu họ phải tham dự. Ngay cả khi họ có hứng thú, cảm xúc của họ cũng khó có thể mãnh liệt như người nói. Họ có thể thích nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ giải lao hoặc đơn giản là vươn vai thư giãn. Chắc chắn họ không có được sự nhiệt tình quá mức mà người nói thường cảm nhận.)

F. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

(Không có yếu tố nào khác của bài thuyết trình có thể gây tổn hại lớn đến cách khán giả đánh giá bài nói như yếu tố thời gian. Cũng không có yếu tố nào dễ kiểm soát hơn, vì nó chỉ đơn giản là việc nhìn vào đồng hồ. Nhưng đồng thời, cũng không có yếu tố nào dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người tỏ ra quá thờ ơ với việc kiểm soát thời lượng bài nói, và điều này có thể gây hậu quả nghiêm trọng.)

G. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

(Tôi đã chứng kiến sự quan tâm mới mẻ này phát triển ở những người nói mới vào nghề — những người ban đầu gặp khó khăn trong việc chọn chủ đề cho bài thuyết trình thử, nhưng sau đó lại đột nhiên trở nên vô cùng say mê với chủ đề họ chọn và bắt đầu kéo mọi người lại trong giờ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói thường trở nên gắn bó sâu sắc với nội dung mình trình bày.)

H. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

(Chính hiệu ứng này cũng tạo ra cảm giác lạ lùng giữa hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thuyết trình. Thông thường, bạn cảm thấy căng tràn năng lượng và sẵn sàng trước khi bắt đầu, và hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng lên trong lúc nói. Phản ứng của cơ thể bị kích thích ở mức cao bất thường. Bạn đã “vay trước” một lượng năng lượng thể chất. Sau bài nói, khoản vay đó phải được trả lại, và bạn đột nhiên cảm thấy kiệt sức.)

Giải chi tiết

Đoạn trước đề cập đến việc người nói chuẩn bị bài thuyết trình sẽ tạo ra một sự quan tâm sâu sắc “profound interest” đối với chủ đề. => chỗ trống cần một đoạn thông tin nêu minh chứng bằng ví dụ về các diễn giả tập sự “novice speakers” trở thành những người ủng hộ nhiệt thành “passionate advocates”.

Câu hoàn chỉnh: It is quite common for the effort of preparing a talk about a subject to produce a quite profound interest in the topic. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

(Việc chuẩn bị một bài thuyết trình về một chủ đề nào đó thường tạo ra sự quan tâm sâu sắc đối với chính chủ đề ấy. Tôi đã chứng kiến mối quan tâm mới mẻ này hình thành ở những người nói còn non kinh nghiệm - những người ban đầu gặp khó khăn trong việc lựa chọn nội dung cho bài thuyết trình thực hành, nhưng sau đó lại đột nhiên trở thành những người nhiệt tình ủng hộ chủ đề mà họ cuối cùng đã chọn, thậm chí còn kéo mọi người lại trong giờ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói thường trở nên gắn bó sâu sắc với nội dung mà họ đang trình bày.)

Đáp án cần điền là: G

Câu hỏi số 6:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: E

Câu hỏi:863418
Phương pháp giải

- Đọc kỹ đoạn văn chứa chỗ trống để hiểu ngữ cảnh và mạch logic của bài.

- Phân tích ý chính của các đoạn từ A-H, lần lượt thử điền vào chỗ trống để chọn ra đoạn văn giúp kết nối nội dung một cách liền mạch và tạo thành đoạn văn có nghĩa hoàn chỉnh.

The audience, as usual, feels quite differently. Their interest in the subject of the talk is unlikely to be so great. They may have no more than a polite interest in it. They may have no interest at all in it and may have come to listen in the hope that the speaker will arouse an interest. __63__.

(Khán giả, như thường lệ, lại cảm nhận hoàn toàn khác. Mức độ quan tâm của họ đối với chủ đề bài nói khó có thể lớn đến như vậy. Họ có thể chỉ quan tâm ở mức xã giao. Thậm chí, họ có thể hoàn toàn không hứng thú và đến nghe chỉ với hy vọng rằng người nói sẽ khơi gợi được sự quan tâm. __63__.)

Nghĩa của các lựa chọn A – H:

A. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

(Khán giả ở trong trạng thái thụ động về mặt thể chất; thậm chí hoạt động tinh thần như nói chuyện với người khác cũng bị ngừng lại. Vì vậy, khán giả ở vị trí hoàn toàn đối lập với người nói. Điều này phần nào giải thích vì sao họ có những cảm nhận rất khác nhau về sự trôi qua của thời gian.)

B. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

(Ngược lại, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị hụt hẫng. Nội dung bạn nói có thể không khác, cách tổ chức và hiệu quả của bài nói cũng không thay đổi, nhưng cam kết về thời lượng mà bạn đã đưa ra thì không được thực hiện.)

C. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

(Tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã phát triển ba cách giải thích cho hiện tượng đó và có thể tóm tắt ngắn gọn. Sau đây tôi sẽ trình bày chúng.)

D. However, this kind of behavior occurs because the average person's span of attention is limited. The simple fact is that about five to ten minutes is as long as most people can listen without a short day-dream. After a brief holiday to catch up with all the other thoughts floating round their head, people come back to a talk.

(Tuy nhiên, kiểu hành vi này xảy ra vì khả năng tập trung của người bình thường là có giới hạn. Thực tế đơn giản là khoảng năm đến mười phút là thời gian tối đa mà đa số mọi người có thể lắng nghe mà không mơ màng. Sau một “kỳ nghỉ ngắn” để theo kịp những suy nghĩ khác đang trôi nổi trong đầu, họ lại quay trở lại với bài nói.)

E. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

(Tệ nhất là, họ có thể có mặt chỉ vì buộc phải có mặt, vì muốn được nhìn thấy ở đó, hoặc vì ai đó khác (như sếp) yêu cầu họ phải tham dự. Ngay cả khi họ có hứng thú, cảm xúc của họ cũng khó có thể mãnh liệt như người nói. Họ có thể thích nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ giải lao hoặc đơn giản là vươn vai thư giãn. Chắc chắn họ không có được sự nhiệt tình quá mức mà người nói thường cảm nhận.)

F. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

(Không có yếu tố nào khác của bài thuyết trình có thể gây tổn hại lớn đến cách khán giả đánh giá bài nói như yếu tố thời gian. Cũng không có yếu tố nào dễ kiểm soát hơn, vì nó chỉ đơn giản là việc nhìn vào đồng hồ. Nhưng đồng thời, cũng không có yếu tố nào dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người tỏ ra quá thờ ơ với việc kiểm soát thời lượng bài nói, và điều này có thể gây hậu quả nghiêm trọng.)

G. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

(Tôi đã chứng kiến sự quan tâm mới mẻ này phát triển ở những người nói mới vào nghề — những người ban đầu gặp khó khăn trong việc chọn chủ đề cho bài thuyết trình thử, nhưng sau đó lại đột nhiên trở nên vô cùng say mê với chủ đề họ chọn và bắt đầu kéo mọi người lại trong giờ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói thường trở nên gắn bó sâu sắc với nội dung mình trình bày.)

H. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

(Chính hiệu ứng này cũng tạo ra cảm giác lạ lùng giữa hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thuyết trình. Thông thường, bạn cảm thấy căng tràn năng lượng và sẵn sàng trước khi bắt đầu, và hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng lên trong lúc nói. Phản ứng của cơ thể bị kích thích ở mức cao bất thường. Bạn đã “vay trước” một lượng năng lượng thể chất. Sau bài nói, khoản vay đó phải được trả lại, và bạn đột nhiên cảm thấy kiệt sức.)

Giải chi tiết

Đoạn trước nói về việc khán giả có thể chỉ quan tâm một cách lịch sự hoặc thậm chí không hứng thú chút nào “They may have no more than a polite interest in it” => chỗ trống cần một đoạn văn nhấn mạnh thêm những lý do tiêu cực hoặc áp lực khiến khán giả có mặt tại buổi nói chuyện.

Câu hoàn chỉnh: The audience, as usual, feels quite differently. Their interest in the subject of the talk is unlikely to be so great. They may have no more than a polite interest in it. They may have no interest at all in it and may have come to listen in the hope that the speaker will arouse an interest. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

(Khán giả, như thường lệ, lại cảm nhận hoàn toàn khác. Mức độ quan tâm của họ đối với chủ đề bài nói khó có thể lớn đến như vậy. Họ có thể chỉ quan tâm ở mức xã giao. Thậm chí, họ có thể hoàn toàn không hứng thú và đến nghe chỉ với hy vọng rằng người nói sẽ khơi gợi được sự quan tâm. Tệ nhất là, họ có mặt vì buộc phải có mặt, vì muốn được nhìn thấy ở đó, hoặc vì ai đó khác (chẳng hạn như sếp) yêu cầu họ phải tham dự. Ngay cả khi họ có nhiệt tình, cảm xúc của họ cũng khó có thể mạnh mẽ như của người nói. Họ có thể thích nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ giải lao hoặc đơn giản là vươn vai thư giãn. Chắc chắn họ không có được sự nhiệt tình lấn át mà người nói thường cảm nhận.)

Đáp án cần điền là: E

Câu hỏi số 7:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: B

Câu hỏi:863419
Phương pháp giải

- Đọc kỹ đoạn văn chứa chỗ trống để hiểu ngữ cảnh và mạch logic của bài.

- Phân tích ý chính của các đoạn từ A-H, lần lượt thử điền vào chỗ trống để chọn ra đoạn văn giúp kết nối nội dung một cách liền mạch và tạo thành đoạn văn có nghĩa hoàn chỉnh.

If you have been invited to give a ten-minute presentation, the audience will become disastrously restless after thirty minutes. They will feel that the talk was disgraceful and that the speaker is guilty of some great social crime. __64__. Of these two mistakes there is no doubt that to over-run the agreed time is more disastrous than to under-run it.

(Nếu bạn được mời trình bày trong mười phút, khán giả sẽ trở nên bồn chồn một cách nghiêm trọng nếu bạn nói suốt ba mươi phút. Họ sẽ cảm thấy bài nói thật đáng chê trách và cho rằng người nói đã phạm phải một “tội lỗi xã hội” nghiêm trọng nào đó. __64__. Trong hai sai lầm này, không còn nghi ngờ gì nữa, việc kéo dài quá thời gian đã thỏa thuận là tai hại hơn nhiều so với việc kết thúc sớm hơn dự kiến.)

Nghĩa của các lựa chọn A – H:

A. It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

(Khán giả ở trong trạng thái thụ động về mặt thể chất; thậm chí hoạt động tinh thần như nói chuyện với người khác cũng bị ngừng lại. Vì vậy, khán giả ở vị trí hoàn toàn đối lập với người nói. Điều này phần nào giải thích vì sao họ có những cảm nhận rất khác nhau về sự trôi qua của thời gian.)

B. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

(Ngược lại, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị hụt hẫng. Nội dung bạn nói có thể không khác, cách tổ chức và hiệu quả của bài nói cũng không thay đổi, nhưng cam kết về thời lượng mà bạn đã đưa ra thì không được thực hiện.)

C. Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

(Tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã phát triển ba cách giải thích cho hiện tượng đó và có thể tóm tắt ngắn gọn. Sau đây tôi sẽ trình bày chúng.)

D. However, this kind of behavior occurs because the average person's span of attention is limited. The simple fact is that about five to ten minutes is as long as most people can listen without a short day-dream. After a brief holiday to catch up with all the other thoughts floating round their head, people come back to a talk.

(Tuy nhiên, kiểu hành vi này xảy ra vì khả năng tập trung của người bình thường là có giới hạn. Thực tế đơn giản là khoảng năm đến mười phút là thời gian tối đa mà đa số mọi người có thể lắng nghe mà không mơ màng. Sau một “kỳ nghỉ ngắn” để theo kịp những suy nghĩ khác đang trôi nổi trong đầu, họ lại quay trở lại với bài nói.)

E. Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

(Tệ nhất là, họ có thể có mặt chỉ vì buộc phải có mặt, vì muốn được nhìn thấy ở đó, hoặc vì ai đó khác (như sếp) yêu cầu họ phải tham dự. Ngay cả khi họ có hứng thú, cảm xúc của họ cũng khó có thể mãnh liệt như người nói. Họ có thể thích nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ giải lao hoặc đơn giản là vươn vai thư giãn. Chắc chắn họ không có được sự nhiệt tình quá mức mà người nói thường cảm nhận.)

F. No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

(Không có yếu tố nào khác của bài thuyết trình có thể gây tổn hại lớn đến cách khán giả đánh giá bài nói như yếu tố thời gian. Cũng không có yếu tố nào dễ kiểm soát hơn, vì nó chỉ đơn giản là việc nhìn vào đồng hồ. Nhưng đồng thời, cũng không có yếu tố nào dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người tỏ ra quá thờ ơ với việc kiểm soát thời lượng bài nói, và điều này có thể gây hậu quả nghiêm trọng.)

G. I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

(Tôi đã chứng kiến sự quan tâm mới mẻ này phát triển ở những người nói mới vào nghề — những người ban đầu gặp khó khăn trong việc chọn chủ đề cho bài thuyết trình thử, nhưng sau đó lại đột nhiên trở nên vô cùng say mê với chủ đề họ chọn và bắt đầu kéo mọi người lại trong giờ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói thường trở nên gắn bó sâu sắc với nội dung mình trình bày.)

H. It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

(Chính hiệu ứng này cũng tạo ra cảm giác lạ lùng giữa hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thuyết trình. Thông thường, bạn cảm thấy căng tràn năng lượng và sẵn sàng trước khi bắt đầu, và hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng lên trong lúc nói. Phản ứng của cơ thể bị kích thích ở mức cao bất thường. Bạn đã “vay trước” một lượng năng lượng thể chất. Sau bài nói, khoản vay đó phải được trả lại, và bạn đột nhiên cảm thấy kiệt sức.)

Giải chi tiết

Đoạn trước mô tả tình huống diễn giả mắc lỗi nói quá giờ quy định, sau chỗ trống chốt lại bằng câu “Of these two mistakes...” (Trong hai sai lầm này...) => Chỗ trống cần một đoạn văn nhấn mạnh thêm về sai lầm còn lại trong việc quản lý thời gian để tạo thành hai sai lầm như đoạn sau đã đề cập.

Câu hoàn chỉnh: If you have been invited to give a ten-minute presentation, the audience will become disastrously restless after thirty minutes. They will feel that the talk was disgraceful and that the speaker is guilty of some great social crime. On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured. Of these two mistakes there is no doubt that to over-run the agreed time is more disastrous than to under-run it.

(Nếu bạn được mời trình bày trong mười phút, khán giả sẽ trở nên bồn chồn một cách nghiêm trọng nếu bạn nói suốt ba mươi phút. Họ sẽ cảm thấy bài nói thật đáng chê trách và cho rằng người nói đã phạm phải một “tội lỗi xã hội” nghiêm trọng nào đó. Ngược lại, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị hụt hẫng. Những gì bạn nói có thể không khác nhau trong cả hai trường hợp, cách tổ chức và hiệu quả của bài nói cũng có thể không thay đổi, nhưng cam kết về thời lượng mà bạn đã đưa ra thì không được thực hiện. Trong hai sai lầm này, không còn nghi ngờ gì nữa, việc kéo dài quá thời gian đã thỏa thuận là tai hại hơn nhiều so với việc kết thúc sớm hơn dự kiến.)

Chú ý khi giải

TIMING A TALK

When people groan that they have been to a dreadful talk, the most common reason they give for their misery is 'he went on and on and on'. A poorly presented subject can be suffered, for the sake of the topic itself, if it keeps to time. But a talk which is both boring and drones on for endless minutes after the clock shows that the finishing time is passed, is a torture. Even an interesting, well presented talk which goes on for too long is remembered with little pleasure. The timing of a talk is, then, extremely important.

No other aspect of the presentation can do as much damage to the way the audience thinks of the talk. No other aspect is so easy to control, since it is a simple mechanical matter of looking at a clock face. And no other aspect is so easy to get wrong. Many people seem to have a casual attitude to the timing of a talk and this can be fatal.

Why does it matter so much? It is a question which I have thought about a great deal. It is quite obvious that speakers don't think it matters greatly. It is equally obvious, both from listening to others, and from observing one's own reactions when trapped in the audience for a talk which goes on far too long, that to the audience timing is vital.

Why is there this difference? I have evolved three explanations for it which can be briefly summarized. Let me outline them.

The first is the different adrenalin levels in speakers and listeners. Put quite simply, they perceive time differently. The excitement and fear produced by speaking causes adrenalin to flush into the veins in large quantities. The result is that speakers have a stamina, a resistance to tiring, an endurance, which is superhuman. They can go on all day.

It is this effect, too, which produces the strange pattern of elation and tiredness when you give a talk. Typically, you feel keyed-up and ready to go before the talk and are totally unaware of growing tiredness during it. The body's responses are artificially heightened. You draw on a physical overdraft of energy. After the talk, this must be paid back and you suddenly feel worn out.

Speakers, then, are in an abnormal state. They are indifferent to time and tiredness and while they are speaking they feel as if they could go on all day. But the audience is in quite the opposite state. Sitting down and having nothing to do but listen actually reduces adrenalin below its normal level.

It is physically inactive; even the mental activity of talking to others is stopped. The audience, then, is at the other end of the scale from the speaker. This goes a long way to explain why they have such different views on the passage of time.

The second reason is that audience and speaker probably have different emotional concerns about the subject. The speaker has been working on the topic for some time, preparing the talk. It is quite common for the effort of preparing a talk about a subject to produce a quite profound interest in the topic.

I have seen this new-found concern develop in novice speakers who had difficulty choosing what to talk about for a practice presentation but who suddenly became passionate advocates for what they finally settled on and started button-holing people at coffee breaks and meal times to talk more about it. Speakers become deeply involved in what they are talking about.

The audience, as usual, feels quite differently. Their interest in the subject of the talk is unlikely to be so great. They may have no more than a polite interest in it. They may have no interest at all in it and may have come to listen in the hope that the speaker will arouse an interest.

Worst of all, they may be there because they have to be, because they want to be seen there or because someone else (such as a boss) demands they should be. Even if they are keen, they are unlikely to feel as strongly as the speaker. They may enjoy listening for a reasonable length of time, but then will want to do something else, like have a break or simply stretch and relax. They will certainly not have the overbearing enthusiasm speakers often feel.

The third reason for the different attitudes between speaker and audience is contractual. The timing of your talk is in effect a contract with the audience. You were invited to talk for a specific time and you have agreed to talk for this time. The power of this contract is extraordinary. If you have been invited to give a ten-minute presentation, the audience will become disastrously restless after thirty minutes. They will feel that the talk was disgraceful and that the speaker is guilty of some great social crime.

On the other hand, if you end early, the audience will feel cheated. What you say may be no different on both occasions, the organization and effectiveness of what you say may not have changed, but that commitment that you made has not been honoured.

Of these two mistakes there is no doubt that to over-run the agreed time is more disastrous than to under-run it. The explanation seems to be that the audience is quietly looking forward to the end of the talk. If that time comes and passes and the speaker is still industriously talking away, the listeners have lost their security.

Tạm dịch:

CĂN CHỈNH THỜI GIAN KHI THUYẾT TRÌNH

Khi mọi người than phiền rằng họ vừa phải nghe một bài nói chuyện tồi tệ, lý do phổ biến nhất cho nỗi khổ đó là: "anh ta cứ nói mãi, nói mãi không thôi". Một chủ đề được trình bày kém vẫn có thể được chấp nhận vì bản thân nội dung, nếu người nói tuân thủ đúng thời gian. Nhưng một bài nói vừa nhàm chán vừa lải nhải kéo dài hàng phút sau khi đồng hồ đã quá giờ kết thúc là một sự tra tấn. Ngay cả một bài nói thú vị, được trình bày tốt nhưng kéo dài quá lâu cũng sẽ để lại rất ít ấn tượng tốt đẹp. Vì vậy, việc căn chỉnh thời gian cho một bài nói là cực kỳ quan trọng.

(F) Không khía cạnh nào khác của việc thuyết trình có thể gây tổn hại đến cách khán giả đánh giá bài nói nhiều như vậy. Không khía cạnh nào khác lại dễ kiểm soát đến thế, vì đó chỉ là vấn đề cơ học đơn giản là nhìn vào mặt đồng hồ. Và cũng không khía cạnh nào khác lại dễ mắc sai lầm đến vậy. Nhiều người dường như có thái độ hời hợt với thời gian của bài nói và điều này có thể dẫn đến hậu quả tai hại.

Tại sao điều này lại quan trọng đến thế? Đó là một câu hỏi mà tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Rõ ràng là các diễn giả không nghĩ rằng điều đó quan trọng lắm. Nhưng cũng rõ ràng không kém, từ việc lắng nghe người khác và từ việc quan sát phản ứng của chính mình khi bị "mắc kẹt" trong khán phòng nghe một bài nói quá dài, rằng đối với khán giả, thời gian là yếu tố sống còn.

(C) Tại sao lại có sự khác biệt này? Tôi đã đưa ra ba lời giải thích có thể tóm tắt ngắn gọn. Hãy để tôi phác thảo chúng.

Lý do đầu tiên là mức độ adrenaline khác nhau giữa người nói và người nghe. Nói một cách đơn giản, họ nhận thức về thời gian khác nhau. Sự phấn khích và sợ hãi do việc nói trước công chúng tạo ra khiến adrenaline tuôn trào vào mạch máu với số lượng lớn. Kết quả là người nói có một sức bền, khả năng chống lại sự mệt mỏi và sức chịu đựng siêu phàm. Họ có thể nói cả ngày.

(H) Chính hiệu ứng này cũng tạo ra mô hình kỳ lạ giữa sự hưng phấn và mệt mỏi khi bạn thực hiện một bài nói. Thông thường, bạn cảm thấy hăng hái và sẵn sàng trước bài nói và hoàn toàn không nhận ra sự mệt mỏi đang tăng dần trong khi nói. Các phản ứng của cơ thể được nâng cao một cách nhân tạo. Bạn đang rút ra một "khoản thấu chi" thể lực về năng lượng. Sau bài nói, khoản này phải được trả lại và bạn đột ngột cảm thấy kiệt sức.

Vì vậy, diễn giả đang ở trong một trạng thái bất thường. Họ thờ ơ với thời gian và sự mệt mỏi, và khi đang nói, họ cảm thấy như thể mình có thể tiếp tục cả ngày. Nhưng khán giả thì ở trạng thái hoàn toàn ngược lại. Việc ngồi xuống và không làm gì ngoài việc lắng nghe thực tế sẽ làm giảm mức adrenaline xuống dưới mức bình thường.

(A) Khán giả ở trạng thái thụ động về thể chất; ngay cả hoạt động trí óc khi trò chuyện với người khác cũng bị dừng lại. Khán giả, khi đó, nằm ở đầu kia của thang đo so với người nói. Điều này giúp giải thích rất nhiều tại sao họ có quan điểm khác biệt về sự trôi qua của thời gian đến thế.

Lý do thứ hai là khán giả và người nói có lẽ có những mối quan tâm cảm xúc khác nhau về chủ đề. Người nói đã nghiên cứu chủ đề này trong một thời gian để chuẩn bị bài nói. Việc nỗ lực chuẩn bị một bài thuyết trình về một đề tài thường tạo ra sự quan tâm sâu sắc đến đề tài đó là điều khá phổ biến.

(G) Tôi đã thấy mối quan tâm mới mẻ này phát triển ở những người mới tập thuyết trình – những người vốn gặp khó khăn trong việc chọn chủ đề để thực hành, nhưng đột nhiên trở thành những người ủng hộ nhiệt thành cho những gì họ cuối cùng đã chọn, và bắt đầu lôi kéo mọi người vào giờ nghỉ giải lao hoặc giờ ăn để nói thêm về nó. Người nói trở nên dấn thân sâu sắc vào những gì họ đang nói.

Khán giả, như thường lệ, cảm thấy hoàn toàn khác. Sự quan tâm của họ đối với chủ đề của bài nói khó có thể lớn đến vậy. Họ có thể chỉ quan tâm ở mức lịch sự. Họ có thể hoàn toàn không quan tâm và đến nghe với hy vọng người nói sẽ khơi dậy được sự hứng thú.

(E) Tệ hơn cả, họ có thể ở đó vì bắt buộc, vì họ muốn được nhìn thấy có mặt ở đó hoặc vì ai đó khác (chẳng hạn như sếp) yêu cầu họ phải có mặt. Ngay cả khi họ nhiệt tình, họ cũng khó có cảm xúc mạnh mẽ như người nói. Họ có thể thích lắng nghe trong một khoảng thời gian hợp lý, nhưng sau đó sẽ muốn làm việc khác, như nghỉ ngơi hoặc đơn giản là vươn vai và thư giãn. Họ chắc chắn sẽ không có sự nhiệt huyết lấn át mà người nói thường cảm thấy.

Lý do thứ ba cho thái độ khác nhau giữa người nói và khán giả là tính cam kết. Thời gian của bài nói trên thực tế là một bản hợp đồng với khán giả. Bạn được mời nói trong một thời gian cụ thể và bạn đã đồng ý nói trong thời gian này. Quyền năng của bản hợp đồng này là phi thường. Nếu bạn được mời thuyết trình trong mười phút, khán giả sẽ trở nên bồn chồn một cách tai hại sau ba mươi phút. Họ sẽ cảm thấy bài nói đó thật đáng trách và người nói đã phạm phải một "tội ác xã hội" lớn lao.

(B) Mặt khác, nếu bạn kết thúc sớm, khán giả sẽ cảm thấy bị lừa dối. Những gì bạn nói có thể không khác biệt trong cả hai trường hợp, cách tổ chức và tính hiệu quả của lời nói có thể không thay đổi, nhưng cam kết mà bạn đã đưa ra đã không được tôn trọng.

Trong hai sai lầm này, không nghi ngờ gì rằng việc nói quá thời gian đã thỏa thuận sẽ tai hại hơn là nói ít hơn thời gian đó. Lời giải thích dường như là khán giả đang âm thầm mong đợi sự kết thúc của bài nói. Nếu đã hết thời gian mà diễn giả vẫn đang mải mê nói, người nghe sẽ mất đi cảm giác an tâm của mình.

Đáp án cần điền là: B

Quảng cáo

PH/HS 2K10 THAM GIA NHÓM ĐỂ CẬP NHẬT ĐIỂM THI, ĐIỂM CHUẨN MIỄN PHÍ!

>> Học trực tuyến lớp 9 và Lộ trình UP10 trên Tuyensinh247.com Đầy đủ khoá học các bộ sách: Kết nối tri thức với cuộc sống; Chân trời sáng tạo; Cánh diều. Lộ trình học tập 3 giai đoạn: Học nền tảng lớp 9, Ôn thi vào lớp 10, Luyện Đề. Bứt phá điểm lớp 9, thi vào lớp 10 kết quả cao. Hoàn trả học phí nếu học không hiệu quả. PH/HS tham khảo chi tiết khoá học tại: Link

Hỗ trợ - Hướng dẫn

  • 024.7300.7989
  • 1800.6947 free

(Thời gian hỗ trợ từ 7h đến 22h)
Email: lienhe@tuyensinh247.com