Tel: 024.7300.7989 - Phone: 1800.6947 (Thời gian hỗ trợ từ 7h đến 22h)

Giỏ hàng của tôi

Read the following passage and mark the letter A, B, C, or D to indicate the correct option that best fits each of the

Read the following passage and mark the letter A, B, C, or D to indicate the correct option that best fits each of the numbered blanks.

In literary debates on feminism, critics frequently return to the problem of “power” as both a conceptual knot and a narrative motor. Canonical texts often stage authority as command and obedience, yet feminist critics insist that literature also dramatizes capacities to act in concert, to refuse, and to reimagine agency. When curricula are revised, syllabi rarely begin from scratch; instead, they are stitched to older canons, (1). This very entanglement makes it tempting to read novels and poems as mere mirrors of domination. (2), showing how a character's fragile choices are neither sovereign nor null but historically mediated.

Recent scholarship has turned to methods that complicate the single-axis heroine. Intersectional readings refuse the monolithic “woman” of earlier criticism and foreground how race, class, sexuality, and colonial location reshape who gets legible as a subject. Hence, frameworks foregrounding embodiment and social reproduction have re-entered syllabi; intersectional approaches, (3), resist singular accounts of agency. In classrooms, this shift is palpable: a repertoire of texts – from memoirs to speculative fiction – (4).

Yet institutions change unevenly. Seldom do established literary canons admit such critiques without contestation: (5), and even then the change unfolds irregularly across departments. Still, precisely because power can be read as domination and as capacity, the most durable feminist criticism refuses a false choice between unveiling structures and cultivating possibilities. It reads form and archive together, making visible how literature both inherits and unsettles the worlds that make it.

(Adapted from Stanford Encyclopedia of Philosophy, “Feminist Perspectives on Power”, 2021)

Trả lời cho các câu 1, 2, 3, 4, 5 dưới đây:

Câu hỏi số 1:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: C

Câu hỏi:942390
Phương pháp giải

Phân tích thành phần câu đã có đầy đủ các thành phần: chủ ngữ “they” + động từ “are stitched” + tân ngữ “to older canons” => Chỗ trống cần một mệnh đề quan hệ bổ nghĩa cho danh từ chỉ vật đếm được ngay trước nó “older canons”.

When curricula are revised, syllabi rarely begin from scratch; instead, they are stitched to older canons, ____.

(Khi chương trình giảng dạy được sửa đổi, giáo trình hiếm khi được xây dựng từ đầu; thay vào đó, chúng được ghép nối với các chuẩn mực cũ hơn, ____.)

Giải chi tiết

A. many of them which, being canonized, nonetheless encodes hierarchies feminists seek unmask => sai vì thừa đại từ “them”

B. much of them, having canonized, nonetheless encodes hierarchies which feminists seeks to unmask => sai vì “much” không dùng cho danh từ đếm được

C. many of which, having been canonized, nonetheless encode hierarchies that feminists seek to unmask

(nhiều trong số đó, dù đã được chuẩn hóa, vẫn chứa đựng những hệ thống phân cấp mà các nhà nữ quyền muốn vạch trần)

D. many of which having been canonizing, nonetheless encode hierarchies which feminists seek to unmask => sai vì động từ “canonizing” ở dạng chủ động V-ing

Câu hoàn chỉnh: When curricula are revised, syllabi rarely begin from scratch; instead, they are stitched to older canons, many of which, having been canonized, nonetheless encode hierarchies that feminists seek to unmask.

(Khi chương trình giảng dạy được sửa đổi, giáo trình hiếm khi được xây dựng từ đầu; thay vào đó, chúng được ghép nối với các chuẩn mực cũ hơn, nhiều trong số đó, dù đã được chuẩn hóa, vẫn chứa đựng những hệ thống phân cấp mà các nhà nữ quyền muốn vạch trần.)

Đáp án cần chọn là: C

Câu hỏi số 2:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: C

Câu hỏi:942391
Phương pháp giải

- Dịch nghĩa câu đề bài để hiểu được ngữ cảnh của câu.

- Dựa vào cấu trúc đảo ngữ với “only by” để chọn đáp án đúng nghĩa và ngữ pháp.

- Cấu trúc đảo ngữ với “only by” (chỉ bằng việc) đầu câu: Only by + V-ing + trợ từ (can/ could) + S + Vo (nguyên thể).

____, showing how a character's fragile choices are neither sovereign nor null but historically mediated.

(____, cho thấy những lựa chọn mong manh của nhân vật không phải là tuyệt đối cũng không phải là vô hiệu mà là kết quả của quá trình lịch sử.)

Giải chi tiết

A. Only by attending to power as both power-over and power-to critics could reconcile textual agency with social constraint => sai cấu trúc đảo ngữ

B. Critics only attend to power as both power-over and power-to they could reconcile textual agency with social constraint => sai vì hai câu đơn đi chung với nhau bị thiếu từ nối

C. Only by attending to power as both power-over and power-to can critics reconcile textual agency with social constraint => đúng cấu trúc

(Chỉ bằng cách xem xét quyền lực vừa là quyền lực áp đặt vừa là quyền lực tác động, các nhà phê bình mới có thể dung hòa vai trò chủ thể trong văn bản với những ràng buộc xã hội)

D. Only by attending to power as both power-over and power-to critics have reconciled textual agency with social constraint => sai cách dùng thì hiện tại hoàn thành và sai cấu trúc đảo ngữ

Câu hoàn chỉnh: Only by attending to power as both power-over and power-to can critics reconcile textual agency with social constraint, showing how a character's fragile choices are neither sovereign nor null but historically mediated.

(Chỉ bằng cách xem xét quyền lực vừa là quyền lực áp đặt vừa là quyền lực tác động, các nhà phê bình mới có thể dung hòa vai trò chủ thể trong văn bản với những ràng buộc xã hội, cho thấy những lựa chọn mong manh của nhân vật không phải là tuyệt đối cũng không phải là vô hiệu mà là kết quả của quá trình lịch sử.)

Đáp án cần chọn là: C

Câu hỏi số 3:
Vận dụng

Đáp án đúng là: B

Câu hỏi:942392
Phương pháp giải

Phân tích thành phần câu đã có đầy đủ các thành phần: chủ ngữ “intersectional approaches” + động từ “resist” + tân ngữ “singular accounts of agency” => Chỗ trống cần một mệnh đề quan hệ bổ nghĩa cho danh từ ngay trước nó “intersectional approaches”.

Hence, frameworks foregrounding embodiment and social reproduction have re-entered syllabi; intersectional approaches, ____, resist singular accounts of agency.

(Do đó, các khuôn khổ nhấn mạnh vào sự hiện thân và tái sản xuất xã hội đã quay trở lại chương trình giảng dạy; các phương pháp tiếp cận giao thoa, ____, chống lại các quan điểm đơn lẻ về năng lực hành động.)

Giải chi tiết

A. which, when read alongside postcolonial archives, disclose how privilege and injury interlock => đúng ngữ pháp

(cái mà khi được nghiên cứu cùng với các tài liệu lưu trữ hậu thuộc địa, cho thấy đặc quyền và tổn thương đan xen nhau như thế nào)

B. which, when read alongside postcolonial archives, discloses how privilege and injury interlock => sai vì động từ “disclose” không hòa hợp với chủ ngữ “approaches”

C. which, when reading alongside postcolonial archives, discloses how privilege and injury interlock => sai vì dạng động từ “reading” ở dạng chủ động V-ing không phù hợp về nghĩa

D. that, read alongside postcolonial archives, discloses how privilege and injury interlock => sai vì đại từ quan hệ “that” không đứng sau dấu phẩy

Câu hoàn chỉnh: Hence, frameworks foregrounding embodiment and social reproduction have re-entered syllabi; intersectional approaches, which, when read alongside postcolonial archives, discloses how privilege and injury interlock, resist singular accounts of agency.

(Do đó, các khuôn khổ nhấn mạnh vào sự hiện thân và tái sản xuất xã hội đã quay trở lại chương trình giảng dạy; các phương pháp tiếp cận giao thoa, cái mà khi được nghiên cứu cùng với các tài liệu lưu trữ hậu thuộc địa, cho thấy đặc quyền và tổn thương đan xen nhau như thế nào, chống lại các quan điểm đơn lẻ về năng lực hành động.)

Đáp án cần chọn là: B

Câu hỏi số 4:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: A

Câu hỏi:942393
Phương pháp giải

Phân tích thành phần câu có chủ ngữ số ít “a repertoire of texts” và chưa có động từ chính chia thì => chỗ trống cần một đáp án có động từ chia thì phù hợp và đúng ngữ pháp.

In classrooms, this shift is palpable: a repertoire of texts – from memoirs to speculative fiction – ____.

(Trong các lớp học, sự thay đổi này rất rõ rệt: một loạt các văn bản – từ hồi ký đến tiểu thuyết giả tưởng – ____.)

Giải chi tiết

A. reframes feminist “empowerment” as a practice embedded in shared cultural struggle rather than isolated ambition => đúng ngữ pháp và phù hợp về nghĩa

(định hình lại “sự trao quyền” cho nữ quyền như một thực tiễn gắn liền với cuộc đấu tranh văn hóa chung chứ không phải là tham vọng đơn lẻ)

B. reframe feminist “empowerment” by reducing it to individual desire without regard for coalitional solidarity => sai vì động từ “reframe” không hòa hợp với chủ ngữ số ít “a repertoire”

C. will have been reframing feminist “empowerment” in ways that detach agency from the communal conditions of its emergence => sai vì cách dùng thì không phù hợp

D. have reframed feminist “empowerment” into a private aspiration rather than a collective historical practice => không phù hợp với ngữ cảnh của đoạn

(đã định hình lại khái niệm "trao quyền" cho nữ quyền thành một khát vọng cá nhân thay vì một thực tiễn lịch sử tập thể.)

Câu hoàn chỉnh: In classrooms, this shift is palpable: a repertoire of texts – from memoirs to speculative fiction – reframes feminist “empowerment” as a practice embedded in shared cultural struggle rather than isolated ambition.

(Trong các lớp học, sự thay đổi này rất rõ rệt: một loạt các văn bản – từ hồi ký đến tiểu thuyết giả tưởng – định hình lại “sự trao quyền” cho nữ quyền như một thực tiễn gắn liền với cuộc đấu tranh văn hóa chung chứ không phải là tham vọng đơn lẻ.)

Đáp án cần chọn là: A

Câu hỏi số 5:
Thông hiểu

Đáp án đúng là: C

Câu hỏi:942394
Phương pháp giải

Phân tích cấu trúc sau dấu hai chấm, đây là một mệnh đề độc lập dùng để giải thích cho ý trước đó. Cần một đáp án có cấu trúc ngữ pháp chính xác và phải hòa hợp với thì hiện tại đơn của toàn văn bản.

Seldom do established literary canons admit such critiques without contestation: ____, and even then the change unfolds irregularly across departments.

(Hiếm khi các chuẩn mực văn học đã được thiết lập chấp nhận những lời phê bình như vậy mà không gặp phải sự phản bác: ____, và ngay cả khi đó, sự thay đổi cũng diễn ra không đồng đều giữa các bộ môn.)

Giải chi tiết

A. not until sustained activist pressure is organized across institutions and disciplines do entrenched structures concede space for feminist critique => đúng ngữ pháp cấu trúc đảo ngữ với “Not until”: Not until + S1 + V1 + Trợ động từ + S2 + Vo (nguyên thể).

(chỉ khi nào áp lực hoạt động bền bỉ được tổ chức một cách nhất quán và kiên trì thì những ranh giới văn học đó mới bắt đầu nới lỏng một cách có ý nghĩa)

B. only after activists had organized persistent pressure through both scholarship and protest did canonical authorities reluctantly acknowledge the need for change => sai thì so với toàn bài

C. not until is sustained activist pressure organized with consistency and persistence can such literary boundaries begin to loosen in any meaningful way => sai cấu trúc đảo ngữ

D. until sustained activist pressure was organized not coherently across the academy, few reforms could be said to alter the canon in practice => sai thì so với toàn bài

Câu hoàn chỉnh: Seldom do established literary canons admit such critiques without contestation: not until is sustained activist pressure organized with consistency and persistence can such literary boundaries begin to loosen in any meaningful way, and even then the change unfolds irregularly across departments.

(Hiếm khi các chuẩn mực văn học đã được thiết lập chấp nhận những lời phê bình như vậy mà không gặp phải sự phản bác: chỉ khi nào áp lực hoạt động bền bỉ được tổ chức một cách nhất quán và kiên trì thì những ranh giới văn học đó mới bắt đầu nới lỏng một cách có ý nghĩa, và ngay cả khi đó, sự thay đổi cũng diễn ra không đồng đều giữa các bộ môn.)

Chú ý khi giải

Bài đọc hoàn chỉnh:

In literary debates on feminism, critics frequently return to the problem of “power” as both a conceptual knot and a narrative motor. Canonical texts often stage authority as command and obedience, yet feminist critics insist that literature also dramatizes capacities to act in concert, to refuse, and to reimagine agency. When curricula are revised, syllabi rarely begin from scratch; instead, they are stitched to older canons, many of which, having been canonized, nonetheless encode hierarchies that feminists seek to unmask. This very entanglement makes it tempting to read novels and poems as mere mirrors of domination. Only by attending to power as both power-over and power-to can critics reconcile textual agency with social constraint, showing how a character's fragile choices are neither sovereign nor null but historically mediated.

Recent scholarship has turned to methods that complicate the single-axis heroine. Intersectional readings refuse the monolithic “woman” of earlier criticism and foreground how race, class, sexuality, and colonial location reshape who gets legible as a subject. Hence, frameworks foregrounding embodiment and social reproduction have re-entered syllabi; intersectional approaches, which, when read alongside postcolonial archives, discloses how privilege and injury interlock, resist singular accounts of agency. In classrooms, this shift is palpable: a repertoire of texts – from memoirs to speculative fiction – reframes feminist “empowerment” as a practice embedded in shared cultural struggle rather than isolated ambition.

Yet institutions change unevenly. Seldom do established literary canons admit such critiques without contestation: not until is sustained activist pressure organized with consistency and persistence can such literary boundaries begin to loosen in any meaningful way, and even then the change unfolds irregularly across departments. Still, precisely because power can be read as domination and as capacity, the most durable feminist criticism refuses a false choice between unveiling structures and cultivating possibilities. It reads form and archive together, making visible how literature both inherits and unsettles the worlds that make it.

Tạm dịch:

Trong các cuộc tranh luận văn học về chủ nghĩa nữ quyền, các nhà phê bình thường quay lại vấn đề "quyền lực" vừa như một nút thắt khái niệm, vừa như một động lực dẫn dắt lời kể. Các văn bản kinh điển thường dàn dựng quyền lực dưới dạng mệnh lệnh và sự vâng lời, tuy nhiên các nhà phê bình nữ quyền nhấn mạnh rằng văn học còn diễn tả khả năng cùng hành động, sự từ chối và việc tái hình dung về tính chủ thể. Khi chương trình học được sửa đổi, các giáo trình hiếm khi bắt đầu từ con số không; thay vào đó, chúng được khâu nối vào những quy chuẩn cũ, nhiều quy chuẩn trong số đó, dù đã được đưa vào kinh điển, vẫn mã hóa các hệ tư tưởng phân cấp mà những nhà nữ quyền tìm cách bóc trần. Chính sự ràng buộc này khiến người ta dễ có xu hướng đọc các tiểu thuyết và bài thơ như những tấm gương phản chiếu sự thống trị đơn thuần. Chỉ bằng cách chú trọng vào quyền lực dưới cả hai dạng: quyền lực áp đặt và quyền lực thực thi, các nhà phê bình mới có thể hòa giải tính chủ thể trong văn bản với các rào cản xã hội, cho thấy những lựa chọn mong manh của một nhân vật không phải là tối thượng cũng không phải là vô nghĩa, mà được trung gian bởi lịch sử.

Học thuật gần đây đã chuyển hướng sang các phương pháp làm phức tạp hóa hình tượng nữ chính đơn trục. Các cách đọc mang tính giao thoa bác bỏ hình tượng "người phụ nữ" nguyên khối của phê bình trước đây và làm nổi bật cách mà chủng tộc, giai cấp, xu hướng tính dục và vị trí thuộc địa tái định hình việc ai được công nhận là một chủ thể hợp lệ. Do đó, các khung lý thuyết tập trung vào sự hiện thân và tái sản xuất xã hội đã tái xuất hiện trong giáo trình; các cách tiếp cận giao thoa, những cách tiếp cận mà khi được đọc cùng với các kho lưu trữ hậu thuộc địa sẽ tiết lộ cách đặc quyền và thương tổn đan xen, chống lại các tường thuật đơn lẻ về tính chủ thể. Trong lớp học, sự thay đổi này rất rõ rệt: một kho tàng văn bản – từ hồi ký đến giả tưởng – đang định nghĩa lại sự "trao quyền" của nữ quyền như một thực hành gắn liền với cuộc đấu tranh văn hóa chung hơn là một tham vọng biệt lập.

Tuy nhiên, các tổ chức thay đổi không đồng đều. Hiếm khi các quy chuẩn văn học đã được thiết lập chấp nhận những phê phán như vậy mà không có sự phản kháng: mãi cho đến khi áp lực từ các nhà hoạt động được tổ chức bền bỉ trên khắp các tổ chức và chuyên ngành, các cấu trúc kiên cố mới chịu nhường không gian cho phê bình nữ quyền, và ngay cả khi đó, sự thay đổi cũng diễn ra không đều giữa các khoa. Tuy vậy, chính vì quyền lực có thể được hiểu là sự thống trị lẫn năng lực, phê bình nữ quyền bền vững nhất từ chối sự lựa chọn sai lầm giữa việc phơi bày cấu trúc và nuôi dưỡng những khả năng. Nó đọc hình thức và lưu trữ cùng nhau, làm hiện rõ cách văn học vừa kế thừa vừa làm đảo lộn những thế giới đã tạo ra nó.

Đáp án cần chọn là: C

Quảng cáo

Group 2K8 ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

>>  2K8 Chú ý! Lộ Trình Sun 2026 - 3IN1 - 1 lộ trình ôn 3 kì thi (Luyện thi 26+ TN THPT, 90+ ĐGNL HN, 900+ ĐGNL HCM, 70+ ĐGTD - Click xem ngay) tại Tuyensinh247.com.Đầy đủ theo 3 đầu sách, Thầy Cô giáo giỏi, luyện thi theo 3 giai đoạn: Nền tảng lớp 12, Luyện thi chuyên sâu, Luyện đề đủ dạng đáp ứng mọi kì thi.

Hỗ trợ - Hướng dẫn

  • 024.7300.7989
  • 1800.6947 free

(Thời gian hỗ trợ từ 7h đến 22h)
Email: lienhe@tuyensinh247.com